Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề phát triển đội ngũ CBQL giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân Chương 2: Thực trạng việc phát triển đội ngũ CBQL giáo dục người dân số trên địa bàn tinh Kon Tum. Chương 3: Các giải pháp phát triển đội ngũ CBQL giáo dục người dân số trên địa bàn tinh Kon Tum. CHUONG 1 CO SO LY LUAN VE PHAT TRIEN DOI NGU CBQL GIÁO DỤC 1. KHÁI QUÁT LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VAN DE Ở đâu có đời sống xã hội, có nền giáo dục, thì ở đó có vấn đề quản lý nói chung và quản lý giáo dục nói riêng, nền giáo dục Nho học thực chất là nền giáo dục đào tạo ra các nhà quản lý (đào tạo những người làm quan) và việc coi trọng đến công tác quản lý, xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý, đưa ra các tư tưởng, biện pháp quản lý là một vấn đề có ý nghĩa quan trọng, vì nơi nào.
coi trọng công tác quản lý, có giải pháp quản lý tối ưu, thì sẽ tạo ra được động. lực phát triển, nhiệm vụ mới được thực hiện hiệu quả, trật tự mới được xác lập. Do vậy, ngay từ thời cổ đại, một số nhà triết học đồng thời là nhà giáo dục ở phương Đông như Không Tir (551-479 TCN) và phương Tây, như Xôcrát (469-339 TCN) đã đưa ra tư tưởng quản lý những vấn đề chung nhất về dạy học và quản lý dạy học. Đến giữa thế kỷ XVIII, một số nhà khoa học như: Robert Owen (1792- 1871), nhà xã hội học không tưởng người Anh Charles Babbage (1792-1871), nhà toán học người Anh đã đưa ra quan điểm, giải pháp quản lý gắn với việc.
nâng cao năng suất lao động và nâng cao trình độ quản lý. Từ nửa đầu thế kỷ XIX đến nay, nhất là từ khi chủ nghĩa Mac-Lê Nin ra đời, khoa học QLGD thực sự có bước phát triển mạnh. Xukhomlinki trong tác phẩm “Kinh nghiệm lãnh đạo của Hiệu trưởng” đã đưa ra nhiều tình huống QLGD và quản lý dạy học trong nhà trường; đồng thời, ở Liên Xô (cũ) một số công trình nghiên cứu về giáo dục của một số tác giả cũng nêu rõ vai trò, vị trí chức năng của CBQL trường học như tác phẩm “Những cơ sở của công tác giáo dục” của Ilina T.A; “Những vấn đề cơ bản của quản lý nhà trường” của Savin N. Trén nén tang triét hoc Mac-Lé Nin va tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo duc va khoa học QLGD, các nhà giáo dục học Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu về lý luận cũng như đề xuất các giải pháp phát triển giáo dục tiêu biểu như: “Một số vấn đề về giáo dục và khoa học giáo dục” của nhóm.
tác giả do Phạm Minh Hạc chủ biên; “Giáo dục học - một số vấn đề về lý luận và thực tiễn” của tác giả Hà Thế Ngữ; “Giáo dục học đại cương” của tác giả Nguyễn Sinh Huy và Nguyễn Văn Lê; “Một số khái niệm về QLGD” của tác giả Đặng Quốc Bảo,. Xuất phát từ quan điểm cán bộ là cái gốc của mọi công việc, Đảng đã ban hành Nghị quyết TW 2 khóa VII và Nghị quyết TW 6 khóa IX của Ban chấp hành TW Đảng Cộng Sản Việt Nam (ĐCSVN) và theo đó công tác nghiên cứu về phát triển giáo dục và QLGD được đây mạnh và đã đạt được những thành tựu to lớn. Có nhiều tác giả như Phạm Minh Hạc, Nguyễn Tấn Phát, Nguyễn Minh Đức bàn về vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ QLGD nói chung và CBQL trường học nói riêng. Thủ tướng chính phủ đã ban hành “Chiến lược phát triển giáo dục 2010-2020 và trước đó là Đề án “Xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ QLGD giai đoạn 2005-2010, phần nào đã giúp ngành giáo dục có thêm một số kiến thức, cơ sở lý luận về QLGD và phát triển đội ngũ cán bộ QLGD trong thời kỳ đổi mới của đất nước.
Trong sự nghiệp cách mạng, Đảng và Nhà nước ta luôn coi đội ngũ GV là lực lượng cốt cán của sự nghiệp GD, người GV được đưa lên vị trí xã hội xứng đáng và được coi trọng, được thường xuyên chăm lo nâng cao uy tín, cải thiện điều kiện làm việc để GV được phát huy hết tài năng, sáng tạo của mình. Chỉ thị số 40-CT/TW ngày 15/6/2004 của Ban Bí thư về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý GD đã nêu nhiệm vụ: “Tiến hành rà soát, sắp xếp lại đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục để có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đảm bảo đủ số lượng và cân đối về cơ cấu; nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, đạo đức cho đội ngũ nhà giáo, CBQLGD"[2]. Quyết định số 09/2005/QĐ-TTg ngày 11/01/2005 của Thủ tướng Chính phủ ví iệc phê duyệt đề án “Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục giai đoạn 2005-2010” đã chỉ ra mục tiêu xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý GD theo hướng chuẩn hóa, nâng cao chất lượng, đảm bảo đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt chú trọng nâng. cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sông, lương tâm nghề nghiệp và trình độ chuyên môn của nhà giáo đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp GD trong công cuộc đây mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Quyết định số 149/2006/QĐ-TTg ngày 23/6/2006 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Phát triển giáo dục mầm non giai đoạn 2006-2015" mục tiêu cụ thể: Đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên mầm non, phần đấu để có 80% giáo viên đạt chuẩn trình độ đào tạo năm 2010 và 100% năm 2015, trong đó có 8% đạt trình độ trên chuẩn năm 2010 va 15% năm 2015 Quyết định số 711/QĐ-TTg ngày 13/6/2012 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt "Chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020" đã chỉ ra một trong những yếu kém của giáo dục nước ta là “Một bộ phận nhà giáo và cán bộ quản lý chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ giáo dục trong thời kỳ mới. Đội ngũ nhà giáo vừa thừa, vừa thiếu cục bộ, vừa không đồng bộ về cơ cấu chuyên môn", "Vẫn còn một bộ phận nhỏ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục có biểu hiện thiếu trách nhiệm và tâm huyết với nghề, vi phạm đạo đức và lối 10 sống, ảnh hưởng không tốt tới uy tín của nhà giáo trong xã hội. Năng lực của một bộ phận nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục còn thấp". Trong các giải pháp phát triển GD ở văn bản chiến lược này đã đề cập giải pháp phát triển đội ngũ nhà giáo nhằm “Đảm bảo từng bước có đủ giáo viên thực hiện giáo dục toàn diện theo chương trình giáo dục mằm non và phô thông, dạy học 2 budi/ngay”.
Kết luận Hội nghị lần thứ 6 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI), Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ, một trong những yêu cầu đề bảo. đảm thực hiện đổi mới hệ thống GD là xây dựng đội ngũ nhà giáo "Đội ngũ nhà giáo (bao gồm các giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục) đóng vai trò quyết định chất lượng GD. Nhà giáo không chỉ đơn thun là người chia sẻ kiến thức và kỹ năng mà còn là người góp phần nuôi dưỡng, phát triển tâm. hồn, hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ" Trong "Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa của thế kỷ XXI" (xuất bản năm 1999), Giáo sư - Viện sĩ Phạm Minh Hạc khẳng định Đội ngũ GV là một yêu tố quyết định sự phát triển sự nghiệp GD&ĐT và đã đưa ra những chuẩn quy định đào tạo GV.
Các luận văn thạc sĩ: "Các giải pháp xây dựng, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý trường trung học phổ thông tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2006-2010” của tác giả Phạm Đình Ly. "Giải pháp quản lý phát triển đội ngữ giáo viên Tiểu học quận Thanh Khê Thành phố Đà Nang đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục" của tác giả Hà Hội. "Biện pháp quản lý công tác bồi dưỡng giáo viên mầm non quận Liên Chiêu Thành phố Đà Nẵng đáp ứng yêu cầu đôi mới giáo dục trong giai đoạn hiện nay" của tác giả Phạm thị Thúy Xuân,. đã nêu lên thực trạng cũng như các giải pháp về công tác xây dựng, phát triển đội ngũ GV, cán bộ quản lý GD của các cấp học ở tỉnh Quảng Nam và Thành phố Đà Nẵng trong giai đoạn hiện nay.
" Các công trình nghiên cứu trên đây, đã tập trung làm rõ một số nội dung xây dựng, phát triển đội ngũ CBQL nói chung và CBQL trường học tại một số địa phương nói riêng. Tuy nhiên vấn đề phát triển đội ngũ CBQL giáo dục người dân tộc thiểu số trong các nhà trường trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên nói chung và Kon tum nói riêng cho tới nay vẫn chưa có tác giả nào đề cấp đến một cách đầy đủ và hệ thống. Chính vì vậy, luận văn này tập trung đi sâu tìm kiếm giải pháp phát triển đội ngũ CBQLGD người DTTS các trường học trên địa bàn tỉnh Kon Tum trong giai đoạn hiện nay. KHÁI NIỆM CƠ BẢN CỦA ĐÈ TÀI 1.
Khái niệm quản lý Theo nghĩa gốc Hán Việt của từ "quản lý" được chiết tự như sau: “quản” là trông nom, *lý” là sắp đặt lo liệu công việc. Quản lý vừa là khoa học vừa là nghệ thuật đang là vấn đề thu hút quan tâm nhiều nhất của các nhà quản lý và các nhà nghiên cứu lý luận quản lý. Khái niệm quản lý đã được nhiều nhà khoa học trình bày ở những góc độ khác nhau, ở mỗi thời điểm khác nhau. Theo Đại bách khoa toàn thư Liên Xô 1977 thì “Quản lý là chức năng của những hệ thống có tổ chức với bản chất khác những chương trình, mục đích hoạt động”.
Trong khi d6, Frederick Winslow Taylor (1856-1915) thì nhằm vào hiệu quả thuần túy: “Quản lý là biết được chính xác điều ban muén người khác làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất” [1, tr89]. Một số nhà 12 giáo dục Việt Nam trong quá trình nghiên cứu vẻ lý luận quản lý, đã nghiên cứu và vận dụng vào lĩnh vực QLGD thì cho rằng: Quản lý là những tác động có định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng bị quản lý trong tổ chức để vận hành tô chức, nhằm đạt mục đích nhất định. Quản lý là sự tác động có mục đích của chủ thẻ quản lý đến khách thể quản lý. Quản lý là một nghệ thuật nhằm đạt mục tiêu đề ra, thông qua việc.
điều khiến, phối hợp, chỉ huy hoạt động đối với người khác.