Mở đầu: Giới thiệu khái quát công trình nghiên cứu: lý do chọn đề tài, mục đích 5 nghiên cứu, khách thể và đối tượng nghiên cứu, giả thuyết khoa học, nhiệm vụ nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu. Nội dung: gồm 3 chƣơng Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về công tác quản lý đội ngũ TTCM các trƣờng tiểu học. Chƣơng 2: Thực trạng công tác quản lý đội ngũ TTCM của hiệu trƣởng ở các trƣờng tiểu học trên địa bàn thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định. Chƣơng 3: Biện pháp quản lý đội ngũ TTCM của hiệu trƣởng ở các trƣờng tiểu học trên địa bàn thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định.
Kết luận và khuyến nghị Tài liệu tham khảo Phụ lục 6 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ TỔ TRƢỞNG CHUYÊN MÔN CÁC TRƢỜNG TIỂU HỌC 1. Khái quát lịch sử vấn đề nghiên cứu Giáo dục Việt Nam đang đối diện với nhiều cơ hội và thách thức bởi bối cảnh kinh tế-xã hội (KT-XH) trong nƣớc và quốc tế có nhiều biến động. Toàn cầu hóa, nền kinh tế tri thức và cách mạng khoa học công nghệ có những tác động lớn làm thay đổi vai trò của nhà quản lý trong trƣờng học nói chung và ngƣời hiệu trƣởng nói riêng. Vai trò của ngƣời hiệu trƣởng đã có xu hƣớng chuyển từ nhà quản lý thụ động sang một nhà lãnh đạo và quản lý năng động, thích ứng với mọi sự thay đổi và đòi hỏi ngày càng cao của xã hội.
Đảng và nhà nƣớc ta luôn khẳng định tầm quan trọng của đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục. Điều đó đƣợc thể hiện trong Chỉ thị 40-CT/TW ngày 15/6/2004 của Ban Bí thƣ Trung ƣơng Đảng về việc xây dựng, nâng cao chất lƣợng đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục. Chỉ thị nêu rõ: “Mục tiêu là xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục đƣợc chuẩn hóa, đảm bảo chất lƣợng, đủ về số lƣợng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất, lối sống, lƣơng tâm, tay nghề của nhà giáo; thông qua việc quản lý, phát triển đúng định hƣớng và có hiệu quả sự nghiệp giáo dục để nâng cao chất lƣợng đào tạo nguồn nhân lực, đáp ứng những đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc” [1, tr. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII đề ra nhiệm vụ: “Phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo.
Thực hiện chuẩn hóa đội ngũ nhà giáo theo từng cấp học và trình độ đào tạo” [23, tr. Thông tƣ số 14/2018/TT-BGDĐT ngày 20/7/2018 của Bộ GD&ĐT ban 7 hành Quy định chuẩn hiệu trƣởng cơ sở giáo dục phổ thông đã tạo ra cơ sở pháp lý và điều kiện thuận lợi trong công tác chỉ đạo và QLGD. Các tài liệu lý luận đã cho thấy vai trò quan trọng của ngƣời CBQL nói chung và đội ngũ TTCM nói riêng trong việc nâng cao chất lƣợng giáo dục toàn diện, đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH đất nƣớc. Trong nhà trƣờng phổ thông, đội ngũ TTCM là lực lƣợng quan trọng nhất đảm bảo chất lƣợng đào tạo của nhà trƣờng vì là ngƣời trực tiếp triển khai những yêu cầu về mục tiêu, nội dung, phƣơng pháp … của đổi mới GDPT, là cấp quản lý trực tiếp đội ngũ giáo viên để giúp nhà trƣờng thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ dạy và học.
Bên cạnh trình độ và kinh nghiệm chuyên môn đã đƣợc đào tạo và rèn luyện qua hoạt động giảng dạy, ngƣời TTCM cần phải đƣợc trang bị các kỹ năng quản lý với tƣ cách là kỹ năng nghề thì TCM sẽ hoạt động có nền nếp, có chất lƣợng, từ đó chất lƣợng giáo dục của các nhà trƣờng phổ thông sẽ đƣợc nâng lên, đáp ứng đƣợc yêu cầu của đổi mới GDPT. Nhận thấy nhu cầu thực tế và vai trò quan trọng của TTCM trong trƣờng phổ thông, ngày 20/01/2012 Bộ GD&ĐT đã có Quyết định số 382/QĐ- BGDĐT ban hành Chƣơng trình bồi dƣỡng cán bộ quản lý trƣờng phổ thông. Chƣơng trình này gồm 05 module với 19 chuyên đề, trong đó có 04 chuyên đề bàn về các kỹ năng hỗ trợ quản lý trƣờng học. Có thể nói đây là những kỹ năng khá cơ bản, cốt lõi dành cho CBQL các cấp nói chung trong trƣờng phổ thông.
Tuy nhiên đối với đội ngũ TTCM thì chƣa có các chuyên đề mang tính đặc thù để tập huấn, bồi dƣỡng. Trƣớc yêu cầu thực tiễn hiện nay, việc bồi dƣỡng tăng cƣờng năng lực quản lý cho TTCM là vấn đề cấp thiết, là một trong những giải pháp có tính đột phá để nâng cao chất lƣợng dạy-học ở các trƣờng phổ thông nói chung và trƣờng tiểu học nói riêng. Ở nƣớc ta, việc nghiên cứu về QLGD, quản lý nhà trƣờng đƣợc các nhà khoa học quan tâm, nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả nhƣ: Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Nguyễn Ngọc Quang, Đặng Quốc Bảo, Thái Duy Tuyên, Nguyễn 8 Quốc Chí, Phạm Minh Hạc, Trần Kiểm, Nguyễn Gia Quý, Nguyễn Phúc Châu. đề cập khá sâu vấn đề quản lý trƣờng học.
Ngoài ra còn có nhiều tài liệu viết về vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của đội ngũ TTCM trong nhà trƣờng của nhóm tác giả Nguyễn Thị Tuyết Hạnh, Trần Thị Minh Hằng. Năm 2015, trên tạp chí Giáo dục Thủ đô (số 18+19), tác giả Phạm Thị Thu Khuê cũng đã đƣa ra một số biện pháp nhằm làm tốt công tác quản lý và phát triển đội ngũ TTCM trong các trƣờng tiểu học. Nhìn chung các công trình nghiên cứu đề cập một cách khái quát, ở tầm vĩ mô hoặc không phải là tài liệu tập trung viết về quản lý đội ngũ TTCM. Tuy nhiên, điểm chung của các tác giả là đã nhấn mạnh đến vai trò của ngƣời quản lý trong việc thực hiện mục tiêu GD&ĐT.
Trong những năm gần đây, một số luận văn thạc sĩ chuyên ngành QLGD của các tác giả nhƣ: “Một số biện pháp quản lý đội ngũ tổ trƣởng chuyên môn của Hiệu trƣởng các trƣờng trung học cơ sở thành phố Hà Tĩnh”, tác giả Võ Thị Mỹ Dung - Học viện quản lý giáo dục; “Quản lý đội ngũ tổ trƣởng chuyên môn ở các trƣờng trung học cơ sở tại thành phố Quy Nhơn”, tác giả Nguyễn Thị Thu Hồng - Trƣờng Đại học Quy Nhơn; “Quản lý đội ngũ tổ trƣởng chuyên môn các trƣờng tiểu học quận Hai Bà Trƣng, thành phố Hà Nội”, tác giả Nguyễn Thị Lệ Thủy - Trƣờng Đại học sƣ phạm Hà Nội 2. Các đề tài nêu trên đã đề cập đến biện pháp quản lý đội ngũ TTCM ở trƣờng phổ thông trên những địa bàn khác nhau. Tuy nhiên trên địa bàn thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định, từ trƣớc đến nay chƣa có một công trình nghiên cứu nào về quản lý đội ngũ TTCM các trƣờng tiểu học. Vì vậy, đề tài luận văn trên đây là một vấn đề nghiên cứu có ý nghĩa cần thiết.
Các khái niệm cơ bản 1. Quản lý Quản lý là một hoạt động xuất hiện từ rất lâu. Ngay từ khi xã hội loài ngƣời xuất hiện thì nhu cầu quản lý cũng đƣợc hình thành nhƣ một tất yếu khách quan. 9 Trải qua hàng vạn năm và các thời kỳ phát triển lịch sử của xã hội loài ngƣời, quản lý đã trở thành một hoạt động phổ biến, diễn ra trên mọi lĩnh vực, mọi cấp độ và có liên quan đến mọi ngƣời.
Đó là hoạt động xã hội bắt nguồn từ tính chất cộng đồng dựa trên sự phân công và hiệp tác để làm một công việc nhằm đạt mục tiêu chung [39, tr. Vậy quản lý là gì? Thuật ngữ này đƣợc định nghĩa theo nhiều cách khác nhau trên cơ sở những cách tiếp cận khác nhau. Từ điển Giáo dục học quan niệm: “Quản lý là hoạt động hay tác động có định hƣớng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt đƣợc mục đích của tổ chức” [42, tr. Theo tác giả Trần Kiểm: “Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ƣu nhằm đạt đƣợc mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất” [27, tr.
Còn các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì lại cho rằng: “Hoạt động quản lý là tác động có định hƣớng, có chủ đích của chủ thể quản lý (ngƣời quản lý) đến khách thể quản lý (ngƣời bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt đƣợc mục đích của tổ chức” [18, tr. Tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những ngƣời lao động nói chung và khách thể quản lý nhằm thực hiện đƣợc mục tiêu dự kiến” [39, tr. Tác giả Đặng Quốc Bảo cho rằng: “Quản lý là quá trình tác động gây ảnh hƣởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt đƣợc mục tiêu chung” [2, tr. Tác giả Vũ Dũng quan niệm: “Quản lý là sự tác động có định hƣớng, có 10 mục đích, có kế hoạch và có hệ thống thông tin của chủ thể đến khách thể của nó” [20, tr.
Những khái niệm trên tuy có khác nhau về cách diễn đạt và cách tiếp cận nhƣng chúng đều có chung những dấu hiệu chủ yếu sau: - Hoạt động quản lý đƣợc tiến hành trong một tổ chức hay một nhóm xã hội; - Hoạt động quản lý là những tác động có tính chủ đích; - Hoạt động quản lý là những tác động phối hợp nổ lực của các cá nhân, là sự lựa chọn các khả năng tối ƣu nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức đã đề ra. Từ những quan niệm và khái niệm nêu trên, có thể hiểu một cách khái quát: Quản lý là quá trình tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng/khách thể quản lý trong một tổ chức, thông qua công cụ và phương pháp quản lý nhằm làm cho tổ chức đó vận hành hợp quy luật và đạt được mục tiêu đã đề ra. Quản lý gồm hai thành phần: chủ thể quản lý và khách thể quản lý. Giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý có mối quan hệ tác động qua lại tƣơng hỗ cho nhau.