Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC 1. Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề Dạy học là một hiện tượng xã hội, được thực hiện ngay từ khi xã hội loài người mới hình thành nhằm truyền đạt kinh nghiệm của thế hệ trước cho thế hệ sau. Trong quá trình dạy học, người thầy luôn tìm tòi những PPDH thích hợp nhất để giúp cho người học lĩnh hội được những nội dung dạy học. Với tầm quan trọng như vậy, PPDH đã được các nhà giáo dục trong nước và trên thế giới quan tâm nghiên cứu.
Quản lý PPDH là quản lý một quá trình xã hội đặc thù, có vai trò quan trọng và cần thiết. Chiến lược phát triển Gíáo dục (GD) giai đoạn 2011-2020 khẳng định: “Phát triển GD là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho GD là đầu tư cho phát triển; GD vừa là mục tiêu vừa là động lực để phát triền kinh tế-xã hội” [36, tr. Ngay từ thời cổ đại, tư tưởng về PPDH và quản lý PPDH đã được thể hiện trong những quan điểm của các triết gia đồng thời là các nhà GD. Khổng tử (551-479 trước CN), nhà triết học kiệt xuất của Trung Hoa cổ đại rất coi trọng việc “Phát huy tính tích cực, sáng tạo, phát huy năng lực nội sinh; dạy sát đối tượng, cá biệt hóa đối tượng” [38, tr.
Xôcơrat (469-399 trước CN) là nhà triết học duy tâm khách quan ở phương Tây đã đề xuất PPDH bằng cách hỏi đáp giữa hai người, PPDH của ông được thế hệ sau gọi là “Phương pháp Xôcrat” [33, tr.Ruxô cũng cho rằng, phải hướng HS tích cực tự giác giành kiến thức bằng cách tìm hiểu, khám phá và sáng tạo.Distecvec thì cho rằng: “Người giáo viên tồi là người cung cấp cho học sinh chân lý, người giáo viên giỏi là người dạy cho họ tìm ra chân lý.” Những tư tưởng trên đây vẫn còn nguyên giá trị trong thời đại ngày nay [33, tr. Komennxki, nhà sư phạm lỗi lạc của thế kỷ XVII đã đưa ra nhiều quan điểm giáo dục tiến bộ vẫn còn có giá trị cho đến ngày nay. Trong tác phẩm “Thế giới qua hình ảnh”, ông đã đưa ra một PPDH hoàn toàn mới, giúp học sinh tri giác về những sự vật, hiện tượng trong tự nhiên. Đây cũng là cuốn sách mở đường cho phương pháp giáo dục hiện tại: Sử dụng công cụ minh họa cho bài học, giúp cho học sinh có thể nhận thức vấn đề tốt hơn.
Ở Liên Xô trước đây, vấn đề PPDH được nhiều nhà giáo dục nghiên cứu và tổ chức nghiên cứu một cách có hệ thống.Babanxki đã xây dựng một hệ thống PPDH hoàn chỉnh và đã được sử dụng rộng rãi ở Liên Xô. Theo ông, xét về mặt điều khiển học có 3 nhóm PPDH, mỗi nhóm lại được chia thành những nhóm con [38, tr.229]: - Nhóm các phương pháp tổ chức và thực hiện hoạt động học tập nhận thức. - Nhóm các phương pháp kích thích và xây dựng động cơ học tập. - Nhóm các phương pháp kiểm tra, tự kiểm tra.
Ở nước ta, ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành công và sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 2-9-1945, Bác Hồ đã khẳng định: “Nền giáo dục mang tính dân tộc, khoa học, dân chủ và đại chúng” [1, tr. Tiếp thu tư tưởng về GD của Bác, Bộ quốc gia giáo dục khẳng định: “Xóa bỏ những phương pháp nhồi sọ, lối học hình thức của nhà trường thực dân, đề cao tinh thần khoa học nhằm trao đổi cho học sinh một lối nhận thức có qui củ, một phương pháp tư duy khoa học, phát triển óc phê phán, phân tích, tổng hợp, tinh thần sáng tạo và gắn liền với thực tế” [15, tr. Kể từ đó đến nay, lĩnh vực PPDH được thu hút đông đảo nhiều tác giả nghiên cứu. Ngay từ năm 1965, tác giả Phạm Thị Diệu Vân đã tập trung tìm tòi những kỹ thuật dạy học sao cho phát huy được tính tích cực học tập của học sinh trong giờ học.
Đến năm 1971, Nguyễn Sỹ Tỳ muốn cải tiến PPDH theo e 8 hướng phát huy trí thông minh của học sinh, theo ông: “PPDH phải phát triển trí thông minh, óc suy nghĩ, phương pháp nghiên cứu cho HS” [3, tr. Đặc biệt từ sau năm 1976, các nghiên cứu về đổi mới PPDH đã có tầm chiến lược hơn và có tính lý luận hơn, có thể nêu ra một số công trình nghiên cứu tiêu biểu như: “Mô hình dạy học tích cực lấy người học làm trung tâm” của tác giả Nguyễn Kỳ (1996); “Giáo dục học một số vấn đề về lý luận và thực tiễn” của Hà Thế Ngữ( 2001); “Những vấn đề chung của Giáo dục học” của Thái Duy Tuyên(2003); “Phương pháp dạy học truyền thống và đổi mới” của Thái Duy Tuyên (2007); “Những vấn đề cơ bản về đổi mới giáo dục tiểu học hiện nay”, của các tác giả Phùng Đình Mẫn (chủ biên, 2003), Trần Văn Hiếu, Hồ Văn Liên, Phan Minh Tiến, Trương Thanh Thúy, Trường đại học Sư phạm - Đại học Huế. Tuy nhiên, vấn đề quản lý đổi mới PPDH, tác giả không đưa vào nhiều tại các tác phẩm này khi bàn về quản lý PPDH ở các trường tiểu học. Trong thời gian qua, một số luận văn thạc sĩ QLGD đã nghiên cứu về quản lý hoạt động dạy học như: Từ Xuân Hóa (Quảng Bình); Tôn Thất Viễn Tương(Thừa Thiên Huế); Phạm Ngọc Thắng (Khánh Hòa); Lê Văn Long (ĐăkNông), Lê Tấn Sang (Phú Yên)… Trên địa bàn huyện Tuy Phước, cho đến nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu vấn đề quản lý đổi mới PPDH đặc biệt là riêng môn Tiếng Việt ở cấp tiểu học.
Xuất phát từ thực tiễn đặt ra yêu cầu ngày càng nâng cao chất lựợng giáo dục, trong đó công tác quản lý nhà trường của HT có vai trò quyết định. Chính vì vậy, chúng tôi thấy cần thiết phải nghiên cứu vấn đề này. Các khái niệm cơ bản 1. Quản lý, Quản lý giáo dục, Quản lý nhà trường 1.
Quản lý Quản lý vừa là một khoa học, vừa là một nghệ thuật của người quản lý e 9 trong điều khiển hệ thống xã hội. Hoạt động quản lý bắt đầu từ sự phân công, hợp tác lao động khi xã hội phát triển. Quản lý đóng vai trò quan trọng trong việc điều khiển các hoạt động xã hội. Trong thực tiễn, quản lý là một công việc phức tạp, khó khăn, nội dung quản lý rộng lớn, luôn vận động biến đổi và phát triển, vì vậy đòi hỏi người quản lý phải đầu tư nhiều thời gian, công sức, trí tuệ.
Tùy theo cách tiếp cận, khái niệm quản lý được các nhà nghiên cứu định nghĩa theo nhiều cách khác nhau: Theo Từ điển Tiếng Việt: “quản lý trông coi và giữ gìn; là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định” [37, tr. Theo tác giả Trần Quốc Thành, xem xét quản lý theo 2 góc độ: + Xét theo góc độ chính trị xã hội: Quản lý là sự kết hợp giữa tri thức với lao động. Sự phát triển của xã hội từ thời kỳ mông muội đến nay bao giờ cũng bao gồm ba yếu tố: Tri thức, sức lao động và quản lý. + Xét theo góc độ hành động: Quản lý là quá trình điều khiển.
Chủ thể quản lý điều khiển hoạt động của người dưới quyền và các đối tượng khác để đạt tới đích đặt ra. Theo tác giả Trần Kiểm: “Quản lý là tác động có hướng đích của chủ thể quản lý, dựa trên nhận thức những quy luật khách quan của hệ quản lý đến các quá trình đang diễn ra nhằm đạt mục đích đặt ra một cách tối ưu” [21, tr. Theo tác giả Hà Thế Ngữ: “Quản lý là quá trình dựa vào các quy luật khách quan vốn có của hệ thống để tác động đến hệ thống nhằm chuyển hệ thống đó sang một trạng thái mới” [23, tr. Các tác giả Bùi Minh Hiền, Vũ Ngọc Hải và Đặng Quốc Bảo cho rằng: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra” [17, tr.
Những tiếp cận và quan niệm về quản lý trên đây có khác nhau nhưng e 10 có điểm chung là phản ánh được bản chất và mục đích của quản lý. Trên cơ sở đó, có thể khái quát: Quản lý là tác động có ý thức, có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý trong mỗi tổ chức bằng việc vận dụng các chức năng quản lý, nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra với chất lượng và hiệu quả tối ưu trong điều kiện biến động của môi trường, làm cho tổ chức vận hành tốt. Quản lý giáo dục Các khái niệm “quản lý”, “quản lý giáo dục” cũng có nhiều quan niệm khác nhau. Theo tác giả Nguyễn Đình Chinh và Phạm Ngọc Uyển: “Quản lý giáo dục và Đào tạo có thể được hiểu là hoạt động quản lý những tác động giáo dục và đào tạo, theo những mục tiêu xác định.
Đó là hoạt động có mục đích, được tổ chức một cách khoa học của hiệu trưởng nhằm tổ chức - chỉ đạo một cách khoa học các hoạt động giáo dục và đào tạo trong nhà trường, hướng vào đạt những mục tiêu đã định” [9, tr. Tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: “Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, kết hợp với quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng thực hiện các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam” [26, tr. Theo tác giả Trần Kiểm và Nguyễn Xuân Thức, đối với cấp vĩ mô: “Quản lý giáo dục là sự tác động liên tục, có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên hệ thống giáo dục nhằm tạo ra tính vượt trội của hệ thống; sử dụng một cách tối ưu các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống nhằm đưa hệ thống đến mục tiêu một cách tốt nhất trong điều kiện bảo đảm sự cân bằng với môi trường bên ngoài luôn luôn biến động” [22, tr. e 11 Ở cấp vi mô: “Quản lý giáo dục thực chất là những tác động của chủ thể quản lý vào quá trình giáo dục (được tiến hành bởi tập thể giáo viên và học sinh, với sự hỗ trợ đắc lực của các lực lượng xã hội) nhằm hình thành và phát triển toàn diện nhân cách học sinh theo mục tiêu đào tạo của nhà trường” [22, tr.