CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC 1.1 KHÁI QUÁT LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ Trong bất kỳ giai đoạn nào của lịch sử, GD&ĐT luôn có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của mỗi cá nhân, mỗi quốc gia. Đổi mới PPDH, QL hoạt động đổi mới PPDH luôn là vấn đề được các nhà giáo dục, quản lý giáo dục quan tâm nghiên cứu, phát triển. Cụ thể: Socrates (469 – 399 TCN) đã đề xuất thực hiện PP đàm thoại trong DH và được sử dụng cho đến ngày nay; J.Komemxki (1592 -1 670), nhà sư phạm lỗi lạc đã phân tích các hiện tượng trong tự nhiên và hiện thực để đưa ra các biện pháp DH buộc HS phải tìm tòi, suy nghĩ để nắm được bản chất của sự vật hiện tượng; A.Distecvec đưa ra quan điểm “người GV tồi là người cung cấp cho HS chân lý, người GV giỏi là người dạy cho họ tìm ra chân lý”; Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX với các nhà giáo dục (GD) tiêu biểu như: A.Macarenco (1888 - 1938), Jean Piaget (1896 -1980),… cũng đã đưa ra quan điểm hướng đến sự tích cực hoạt động nhận thức của người học. Dạy học (DH) ra đời và được thực hiện ngay từ khi xã hội loài người mới hình thành nhằm truyền đạt kinh nghiệm của thế hệ trước cho thế hệ sau.
Trong quá trình DH, người thầy phải không ngừng sáng tạo những PPDH thích hợp nhất để giúp cho người học lĩnh hội được kiến thức một cách tốt nhất. Với tầm quan trọng như vậy, PPDH đã được các nhà GD trong nước và trên thế giới quan tâm nghiên cứu. Quản lý PPDH là quản lý một quá trình xã hội đặc thù, có vai trò quan trọng và cần thiết đối với sự phát triển của GD. Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong thư gửi cho HS nhân ngày khai trường, đã viết: “Từ giờ phút này trở đi, các cháu được hưởng một nền GD hoàn toàn Việt Nam (…) làm phát triển hoàn toàn năng lực sẵn có của các cháu”.
Nội e 7 dung bức thư như là một định hướng cho sự phát triển của PPDH, DH cần làm phát triển hoàn toàn năng lực sẵn có của người học. Ngày nay, chiến lược phát triển GD giai đoạn 2011 – 2020, Đảng và Nhà nước ta khẳng định: “Phát triển GD là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho GD là đầu tư cho phát triển; GD vừa là mục tiêu, vừa là động lực để phát triền kinh tế - xã hội”. Chính vì thế, PPDH đã trở thành một vấn đề thời sự được nhiều nhà GD quan tâm với nhiều công trình khoa học nghiên cứu về đổi mới PPDH, như: Hà Thế Ngữ (2001): GD học một số vấn đề lí luận và thực tiễn; Thái Duy Tuyên (2001): GD học hiện đại; Nguyễn Đào - Quý Châu (2007): Những kỹ năng và lời khuyên thực tế để cải tiến PP giảng dạy. Trong thời gian qua, vấn đề đổi mới PPDH và quản lý việc đổi mới PPDH được các luận văn thạc sĩ chuyên ngành QLGD nghiên cứu, như: Mai Thị Tuyết (2004), Một số biện pháp quản lý của HT nhằm đổi mới PPDH ở các trường trung học cơ sở thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình trong giai đoạn hiện nay, Luận văn thạc sĩ GD học, Huế.
Tôn Thất Viễn Tương (2006), Các biện pháp quản lý của HT đối với việc đổi mới PPDH ở các trường trung học phổ thông thành phố Huế, Luận văn thạc sĩ GD học, Huế. Trần Hải (2007), Các biện pháp quản lý tăng cường đổi mới PPDH của HT trường TH huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị, Luận văn thạc sĩ GD học, Huế. Phạm Ngọc Thắng (2008), Biện pháp quản lý của HT trong việc đổi mới PPDH ở các trường trung học phổ thông tỉnh Khánh Hòa, Luận văn Thạc sĩ QL GD, Huế. Lã Mạnh Hà (2011), Biện pháp quản lý đổi mới PPDH ở các trường trung học phổ thông tỉnh Đắk Lắk, Luận văn thạc sĩ GD học, Quy Nhơn.
e 8 Phan Minh Tuấn (2014), Một số giải pháp quản lý đổi mới PPDH ở các trường TH huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông, Luận văn thạc sĩ QLGD. Hồ Văn Dũng (2016), Biện pháp quản lý đổi mới PPDH ở các trường trung học cơ sở huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế, Luận văn thạc sĩ QLGD, Huế. Phan Thị Hải Yến (2019), quản lý đổi mới PPDH ở các Trường TH huyện Đăk Mil tỉnh Đăk Nông, Luận văn thạc sĩ QLGD, Đại học Quy Nhơn. Các luận văn trên đã nhấn mạnh việc đổi mới PPDH là yếu tố then chốt để nâng cao chất lượng và hiệu quả DH trên những địa bàn khác nhau.
Từ những vấn đề lý luận và thực tiễn đã được các luận văn tổng kết là những kinh nghiệm quý cho quá trình nghiên cứu của tác giả. Hiện nay, các trường TH trên địa bàn thành phố Quy Nhơn, vấn đề đổi mới PPDH đã được đặt ra, nhưng việc quản lý đổi mới PPDH ở các trường TH trên địa bàn thành phố Quy Nhơn chưa được quan tâm chú ý, đặc biệt là chưa có những hướng dẫn và quy định cụ thể để thực hiện với từng môn học, từng bài dạy trong giai đoạn hiện nay. Do đó, việc nghiên cứu thực trạng, xây dựng các giải pháp quản lý việc đổi mới PPDH ở các trường TH trên địa bàn thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định là rất cần thiết. CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN 1.
Quản lý Tùy theo từng cách tiếp cận khác nhau mà các nhà nghiên cứu đưa ra nhiều khái niệm quản lý khác nhau. Theo Từ điển Tiếng Việt: “Quản lý là trông coi và giữ gìn; là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định” [29]. Tác giả Hà Thế Ngữ đưa ra định nghĩa: “Quản lý là quá trình dựa vào các quy luật khách quan vốn có của hệ thống để tác động đến hệ thống nhằm chuyển hệ thống đó sang một trạng thái mới” [16]. e 9 Các tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc và Nguyễn Quốc Chí cho rằng: “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra” [5].
Theo Trần Kiểm: “Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất” [14]. Trần Khánh Đức cho rằng: “Quản lý là hoạt động có ý thức của con người nhằm định hướng, tổ chức, sử dụng các nguồn lực và phối hợp hành động của một nhóm người hay một cộng đồng người để đạt được mục tiêu đề ra một cách hiệu quả nhất trong một bối cảnh và các điều kiện nhất định” [11]. Tuy chưa có sự thống nhất trong khái niệm quản lý nhưng trên bình diện của các lĩnh vực quản lý xã hội nói chung, khái niệm quản lý có các đặc điểm sau đây: Hoạt động quản lý được tiến hành trong một tổ chức hay một nhóm xã hội. Hoạt động quản lý là những tác động có tính hướng đích.
Hoạt động quản lý là những tác động phối hợp nỗ lực của các cá nhân nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức. Như vậy có thể hiểu, quản lý là một hoạt động được tiến hành dựa trên sự phối hợp giữa các cá nhân của một tổ chức hay một nhóm xã hội có tính hướng đích để thực hiện mục tiêu của tổ chức hay nhóm xã hội đã đề ra. Trên cơ sở đó, có thể khái quát: quản lý là tác động có ý thức, có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý trong mỗi tổ chức bằng việc vận dụng các chức năng quản lý, nhằm sử dụng có hiệu quả e 10 nhất các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra với chất lượng và hiệu quả tối ưu trong điều kiện biến động của môi trường, làm cho tổ chức vận hành tốt. Quản lý nhà trường Có nhiều tác giả đưa ra định nghĩa về quản lý nhà trường như: Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: Trường học là một thiết chế xã hội trong đó diễn ra quá trình đào tạo GD với sự hoạt động tương tác giữa hai nhân tố Thầy – Trò.
Trường học là một bộ phận của cộng đồng và trong guồng máy của hệ thống GD quốc dân, nó là đơn vị cơ sở [1]. Tác giả Phạm Minh Hạc cho rằng: quản lý nhà trường là thực hiện đường lối GD của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý GD để tiến tới mục tiêu GD, mục tiêu đào tạo đối với ngành GD, với thế hệ trẻ và từng HS [12]. Quản lý nhà trường thực chất là quản lý trên tất cả các mặt, các khía cạnh khác nhau có liên quan đến hoạt động giảng dạy trong phạm vi một nhà trường. Quản lý nhà trường là một trong những nội dung quan trọng của hệ thống quản lý GD nói chung.
Quản lý nhà trường chính là những công việc của nhà trường mà người cán bộ quản lý thực hiện những chức năng quản lý để thực hiện các nhiệm vụ công tác của mình. Đó chính là những hoạt động có ý thức, có kế hoạch của chủ thể quản lý nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của nhà trường mà trọng tâm là quá trình dạy và học. Quản lý trường học nói chung và quản lý trường TH nói riêng là tổ chức, chỉ đạo và điều hành quá trình giảng dạy của thầy và hoạt động học tập của trò, đồng thời quản lý những điều kiện cơ sở vật chất và công việc phục vụ cho việc dạy và học nhằm đạt được mục đích GD. e 11 Tóm lại, quản lý nhà trường là một bộ phận của QLGD.
Quản lý nhà trường là một hệ thống những tác động sư phạm khoa học và có định hướng của chủ thể quản lý đến GV, HS và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm làm cho nhà trường vận hành theo đúng đường lối, nguyên lý GD của Đảng trong thực tiễn Việt Nam. Đổi mới phương pháp dạy học ở trường tiểu học 1.1 phương pháp dạy học là gì? PPDH được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau. Tùy theo nhận thức của các nhà sư phạm và đặc điểm lịch sử của từng thời kỳ, PPDH được định nghĩa theo nhiều quan điểm khác nhau. Hiện nay, có một số cách định nghĩa đang được khá nhiều người chấp nhận như: + Trong Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: “PP là cách thức tiến hành để có hiệu quả cao” [29].