CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ VÀ QUẢN LÝ ĐÀO TẠO HÌNH THỨC VỪA LÀM VỪA HỌC 1. Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề Giáo dục đóng vai trò rất quan trọng trong xã hội, nó không thể tách rời với xã hội, hơn nữa giáo dục và xã hội là một khối thống nhất như UNESCO đã cho rằng giáo dục ở thế kỷ XXI là nền giáo dục của xã hội học tập và học tập suốt đời cho mọi người. Quan điểm của C.Mác: Con người vừa là thực thể tự nhiên, vừa là thực thể xã hội, bản chất của con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội.Ăngghen bàn đến giáo dục con người, về con người phát triển toàn diện.Mác, trong xã hội tương lai thế hệ trẻ phải được chuẩn bị cho việc giáo dục kỹ thuật tổng hợp nhiều mặt, phải biết kết hợp giáo dục đạo đức với thể dục, trí dục và lao động sản xuất. Sau này Lê-nin đã kế thừa tư tưởng về con người phát triển toàn diện của C.Ăngghen, nhưng Lê-nin bổ sung thêm, con người phát triển toàn diện là con người phát triển nhiều mặt và biết làm mọi việc.
Năm 1972, Edgar Parue - Chủ tịch Ủy ban Quốc tế về phát triển giáo dục (thuộc UNESCO) trong báo cáo với nhan đề “Học để tồn tại: thế giới giáo dục hôm nay và ngày mai” đã làm xoay chuyển nhận thức về giáo dục, với các khái niệm quan trọng là “Học suốt đời” và “Tính phù hợp”. [22] Với việc đặt giáo dục cho đối tượng người lớn tuổi trong khuôn khổ của giáo dục suốt đời, khái niệm “xã hội học tập” được nhiều nhà giáo dục lớn trên thế giới đưa ra bàn luận và kết quả tất yếu là quan niệm về giáo dục đã được mở rộng hơn: giáo dục người lớn phải được coi là bộ phận chủ yếu quan trọng cùng với giáo dục chính quy cung cấp cơ hội học tập suốt đời cho mọi người. Đây là định hướng cho cải cách giáo dục giai đoạn này. 7 Giáo dục đại học đóng vai trò quan trọng trong việc đào tạo một nguồn nhân lực có trí tuệ, định hình nhân cách người lao động trong thời kỳ mới.
Những giảng viên tại các cơ sở giáo dục đại học vừa là người truyền tải tri thức của nhân loại vừa là tấm gương đạo đức cho sinh viên. giảng viên đại học, hơn ai hết cần thực sự “vừa hồng vừa chuyên”. Họ cần được thường xuyên đào tạo, bồi dưỡng để bắt kịp với những tri thức hiện đại, có lập trường tư tưởng vững vàng thông qua những kế hoạch đào tạo dựa trên cơ sở phân tích năng lực của từng giảng viên được cung cấp bằng những công cụ đánh giá khoa học và toàn diện. Các tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục đại học trên thế giới (International Network for Quality Asurance Agencies in Higher Education - INQAAHE) được thành lập năm 1991 đồng ý rằng một trường đại học chỉ có chất lượng khi mọi hoạt động trong trường đều đạt tiêu chuẩn chất lượng, nghĩa là từ mọi cấp quản lý trong trường, mọi hình thức đào tạo (chính quy, vừa làm vừa học,.), mọi chương trình đào tạo (ngoại ngữ, các lớp ngắn hạn, cao đẳng, đại học, trên đại học), mọi loại thu chi, mọi chương trình nghiên cứu và phát triển (cấp trường, cấp bộ, cấp quốc gia, cấp quốc tế), đến các dịch vụ sinh viên, dịch vụ cộng đồng, các hợp đồng tư vấn, tất cả đều đạt tiêu chuẩn về chất lượng.
Việc quản lý chất lượng đào tạo trong những năm qua đã được sự quan tâm của các nhà khoa học, nhiều nhà quản lý đặc biệt là các trường đại học, các viện nghiên cứu. Một số công trình đã được công bố trên các sách, báo, tạp chí. Cho đến nay, quản lý đào tạo đại học hình thức vừa làm vừa học (VLVH) tại các trường đại học vẫn còn tùy thuộc vào từng địa phương, từng nhà trường, từng ngành và chưa mang tính thống nhất. Trong những năm gần đây, có rất nhiều cơ sở giáo dục đã tập trung nghiên cứu về các biện pháp quản lý đào tạo hình thức VLVH để nâng cao chất lượng đào tạo như các luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục của các tác giả: 8 Vũ Duy Hiển (2013), “Quản lý quá trình đào tạo đại học vừa làm vừa học theo tiếp cận đảm bảo chất lượng”, Luận án Tiến sĩ khoa học quản lý giáo dục, Hà Nội.
Nguyễn Thị Hương Giang (2011), “Quản lý đào tạo đối với hình thức vừa học vừa làm khoa ngoại ngữ, Viện Đại học Mở Hà Nội”, Luận văn Thạc sĩ giáo dục học, Hà Nội. Phạm Hương Giang (2011), “Biện pháp quản lý đào tạo Đại học hình thức VLVH của trường Đại học Văn hóa Hà Nội”, Luận văn Thạc sĩ khoa học quản lý giáo dục, Hà Nội. Bùi Đức Anh (2013), “Quản lý hoạt động đào tạo đại học hình thức vừa làm vừa học tại Trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp Thái Nguyên”, Luận văn Thạc sĩ khoa học giáo dục, Hà Nội. Kiều Hồng Hạnh (2013), “Biện pháp Quản lý hoạt động đào tạo hình thức VLVH tại trường Đại học Luật Hà Nội” Luận văn Thạc sĩ khoa học quản lý giáo dục, Hà Nội.
Các nghiên cứu đều nhằm mục đích chung xây dựng các biện pháp quản lý đào tạo hình thức VLVH, công bố rộng rãi để thuyết phục chủ thể và khách thể của quá trình nghiên cứu tham gia hiệu quả vào việc nâng cao chất lượng của hoạt động đào tạo bên cạnh đó còn có giá trị khoa học cả về lý luận và thực tiễn, phù hợp với công việc của các tác giả trong khi thực hiện nhiệm vụ, đồng thời cũng giúp cho các cơ sở giáo dục khác tham khảo để vận dụng vào công tác quản lý của mình. Qua các hướng nghiên cứu, theo cách tiếp cận chức năng quản lý, các đề tài nghiên cứu cũng đã làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn trong quản lý hoạt động đào tạo hình thức VLVH. Từ cơ sở xem xét khái quát tình hình nghiên cứu vấn đề đã trình bày, chúng tôi nhận thấy quản lý hoạt động đào tạo hình thức VLVH rất quan trọng. Quản lý hoạt động đào tạo hình thức VLVH được nhiều nhà khoa học 9 giáo dục, các đề tài nghiên cứu theo nhiều cách tiếp cận khác nhau đã làm sáng tỏ mục đích, yêu cầu, nội dung chương trình, người dạy, người học, kết quả, hình thức, phương pháp, kiểm tra, đánh giá, môi trường đào tạo và công tác kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra trong quản lý hoạt động đào tạo hình thức VLVH.
Trong luận văn này, theo cách tiếp cận hoạt động quản lý, chúng tôi muốn nghiên cứu làm sáng tỏ thêm vấn đề quản lý hoạt động đào tạo hình thức vừa làm vừa học tại Trường Đại học Quy Nhơn. Một số khái niệm chính 1. Quản lý Trong khoa học và thực tiễn, quản lý được xác định vừa là khoa học vừa là nghệ thuật. Theo Từ điển Tiếng Việt, “quản lý” được hiểu là “Trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định” hay “Tổ chức và điều khiển các hoạt động theo một yêu cầu nhất định” [26, tr.
Thuật ngữ “Quản lý” bao gồm: “quản” con người, các quá trình xã hội và các nguồn lực vật chất, kỹ thuật thông qua “lý” – sự hợp lý, lôgíc, thỏa mãn các chuẩn mực hoặc các quy tắc đã thống nhất và được thông qua.14] Khái niệm quản lý có nhiều cách tiếp cận, chúng tôi đề cập đến một số quan niệm về quản lý của một số tác giả trong nước và ngoài nước như sau: C.Ăngghen: “Bất cứ lao động cá biệt hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn đều đòi hỏi một sự chỉ đạo để điều hòa các hoạt động cá nhân. Một người độc tấu vĩ cầm tự điều khiển mình, còn một dàn nhạc cần có nhạc trưởng”.W Taylor (Mỹ, 1856-1915): “Quản lý là biết chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó khiến cho họ hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất”. Fayol (Pháp, 1886-1925): “Quản lý tức là lập kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra”.57] 10 Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Quản lý là hoạt động định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý trong một tổ chức, nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt được mục đích của tổ chức”.1] Tóm lại, mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau về quản lý, song khái niệm quản lý về bản chất là một hoạt động xã hội, luôn gắn liền với một nhón người hay một tổ chức xã hội nào đó. Theo chúng tôi hiểu, quản lý là những tác động có chủ đích, phù hợp với quy luật khách quan của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý, phát huy tốt nhất những tiềm năng của đối tượng quản lý, trong môi trường luôn thay đổi nhằm làm cho tổ chức ổn định, thích ứng và phát triển.
Như vậy, quản lý là một hệ thống bao gồm những nhân tố cơ bản: chủ thể quản lý, đối tượng quản lý, mục tiêu quản lý, công cụ, phương tiện quản lý, cách thức quản lý (có ý thức, bằng quyền lực, theo quy trình). Những nhân tố đó có quan hệ và tác động lẫn nhau để hình thành nên quy luật và tính quy luật quản lý. Giáo dục và quản lý giáo dục 1. Giáo dục Theo tác giả Phạm Viết Vượng: Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là sự truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử - xã hội của các thế hệ loài người, nhờ có giáo dục mà các thế hệ nối tiếp nhau phát triển, tinh hoa văn hóa dân tộc và nhân loại được kế thừa, bổ sung và trên cơ sở đó mà xã hội loài người không ngừng tiến lên.9] Giáo dục (theo nghĩa rộng) là quá trình tác động có mục đích, có tổ chức, có kế hoạch, có nội dung và bằng phương pháp khoa học của nhà giáo dục tới người được giáo dục tại các cơ sở giáo dục nhằm hình thành nhân cách cho họ.
11 Giáo dục (theo nghĩa hẹp) là quá trình hình thành cho người được giáo dục lí tưởng, động cơ, tình cảm, niềm tin, những nét tính cách của nhân cách, những hành vi, thói quen cư xử đúng đắn trong xã hội thông qua việc tổ chức cho họ các hoạt động và giao lưu. Quản lý giáo dục Quản lý giáo dục (QLGD) là một bộ phận của hệ thống quản lý xã hội.