Chương 1: Cơ sở lý luận v quản lý công tác xã hội đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt. Chương 2: Thực trạng quản lý công tác xã hội đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt tại thành phố Hà Nội Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý công tác xã hội đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt từ thực tiễn thành phố Hà Nội 13 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ UẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI TRẺ EM CÓ HOÀN CẢNH ĐẶC BIỆT 1. Một số khái niệm công cụ 1. Khái niệm trẻ em Trẻ em là đối tượng nghiên cứu của rất nhi u ngành khoa học khác nhau.
Tùy thuộc vào từng góc độ tiếp cận khác nhau, chúng ta có những định nghĩa v trẻ em cũng kh c nhau Dẫn theo Nguyễn Hiệp Thương [26], xét v góc độ phát triển, trẻ em là “những người chưa trưởng thành, còn non nớt v thể chất và trí tuệ, dễ bị tổn thương, cần được bảo vệ và chăm sóc đặc biệt, kể cả sự bảo vệ thích hợp v mặt ph p lý trước cũng như sau khi ra đời”. V vị thế xã hội, trẻ em là một nhóm thành viên xã hội ngày càng có khả năng hội nhập xã hội với tư c ch là những chủ thể tích cực, có ý thức, nhưng cũng là đối tượng cần được gia đình và xã hội quan tâm bảo vệ, chăm sóc, gi o dục. Theo Đi u 1, Công ước của Liên hợp quốc v quy n trẻ em (CRC): “Trẻ em có nghĩa là mọi người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó có quy định tuổi thành niên sớm hơn” [2]. Theo Luật Trẻ em 2016 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua tại kỳ họp thứ 11, Quốc hội khóa XIII quy định “Trẻ em là những người dưới 16 tuổi” [23] Bên cạnh đó, ở Việt Nam, thuật ngữ v TE được quy định trong rất nhi u các luật kh c như Luật phổ cập giáo dục trung học, Bộ luật hình sự, Bộ luật Lao động, Bộ luật dân sự, quốc tịch, Luật hôn nhân và gia đình Tuy nhiên, vẫn chưa có sự thống nhất v độ tuổi trẻ em trong c c văn bản luật nêu trên.
Trong phạm vi của đ tài, tác giả sử dụng khái niệm trẻ em theo Luật trẻ em năm 2016: “Trẻ em là những người dưới 16 tuổi” 1. Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt 1. Khái niệm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt Luật trẻ em 2016 [23] định nghĩa: “Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt là trẻ em không đủ đi u kiện thực hiện được quy n sống, quy n được bảo vệ, quy n được 14 chăm sóc, nuôi dưỡng, quy n học tập, cần có sự hỗ trợ, can thiệp đặc biệt của Nhà nước, gia đình và xã hội để được an toàn, hòa nhập gia đình, cộng đồng” Theo đó, tại Đi u 10, Luật Trẻ em 2016 [23] quy định trẻ em có HCĐB gồm 14 nhóm sau đây: Trẻ em mồ côi cả cha và mẹ; Trẻ em bị bỏ rơi; Trẻ em không nơi nương tựa; Trẻ em khuyết tật; Trẻ em nhiễm HIV/AIDS; Trẻ em vi phạm pháp luật; Trẻ em nghiện ma túy; Trẻ em phải bỏ học kiếm sống chưa hoàn thành phổ cập giáo dục trung học cơ sở; Trẻ em bị tổn hại nghiêm trọng v thể chất và tinh thần do bị bạo lực; Trẻ em bị bóc lột; Trẻ em bị xâm hại tình dục; Trẻ em bị mua bán; Trẻ em mắc bệnh hiểm nghèo hoặc bệnh phải Đi u trị dài ngày thuộc hộ nghèo hoặc hộ cận nghèo; Trẻ em di cư, trẻ em lánh nạn, tị nạn chưa x c định được cha mẹ hoặc không có người chăm sóc 1. Nguyên nhân trẻ em rơi vào hoàn cảnh đặc biệt [46] Có rất nhi u nguyên nhân gây lên tình trạng trẻ em đặc biệt, đối với những nhóm trẻ khác nhau thì có những nguyên nhân chung và nguyên nhân riêng đặc thù.
Có thể chia làm 2 nhóm nguyên nhân: a. Nhóm nguyên nhân khách quan - Nguyên nhân v kinh tế: Trong đi u kiện phát triển kinh tế thị trường khó tránh khỏi sự phân hoá giàu nghèo, phân hoá xã hội. Gốc rễ của vấn đ này là qui luật cạnh tranh, một bộ phận dân cư giàu lên nhanh chóng và bộ phận dân cư kh c không đủ sức cạnh tranh sẽ bị rơi vào tình trạng nghèo, nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối. Sự chênh lệch mức sống giữa các tầng lớp dân cư, giữa các vùng dẫn đến làm gia tăng trẻ em lang thang kiếm sống, lao động trẻ em và trẻ em bị xâm hại tình dục.
Mặt khác, lối sống thực dụng chạy theo đồng ti n làm một số giá trị đạo đức xã hội bị đảo lộn: li dị, li thân, bỏ rơi con c i, mức độ quan tâm của cộng đồng, làng, xã đối với trẻ em ngày càng giảm sút. Trẻ em thường rất nhạy cảm với sự thay đổi của môi trường, do vậy tình trạng bỏ nhà ra đi, trộm cắp, bụi đời, nghiện hút ngày càng gia tăng ở lứa tuổi các em. Cũng do kinh tế phát triển, mức sống dân cư tăng, chi phí cho c c dịch vụ xã hội cơ bản như gi o dục, y tế, nước sạch và c c chi phí vui chơi giải trí cho trẻ ngày càng tăng Thêm vào đó, nghèo đói ngày càng tăng, một bộ phận dân cư nghèo không đủ đi u kiện để đ p ứng nhu cầu của trẻ, hiển nhiên những đứa trẻ này có xu hướng bỏ học, đi làm, đi lang thang 15 - Nguyên nhân v đi u kiên tự nhiên Đi u kiện tự nhiên khắc nghiệt, thiên tai, bão lũ thường xuyên xảy ra, hàng năm gây thiệt hại lớn v người và tài sản của nhân dân dẫn đến cảnh đói nghèo, dịch bệnh, người chết, tàn tật, mất tích., trong số đó có không nhỏ trẻ em bị mồ côi, tàn tật, mắc bệnh, thiếu ăn, phải đi lang thang Địa hình phức tạp, chia cắt các vùng, hạ tầng cơ sở cơ bản như y tế, giáo dục, nước sạch. là những nguyên nhân chung dẫn đến tình trạng khó khăn của nhân dân và trẻ em, biểu hiện của sự thiếu thốn là những quy n cơ bản của trẻ em chưa được đảm bảo và trẻ rơi vào tình trạng có HCĐB.
Thiên tai và ảnh hưởng của thiên tai có xu hướng phức tạp hơn trong bối cảnh biến đổi khí hậu; t c động mạnh, phạm vi rộng và đa dạng hơn C c dạng rủi ro kh c chưa được đ cập rõ ràng, thiếu hướng dẫn như tai nạn lao động, tai nạn giao thông, đuối nước nên khó thực hiện ở cơ sở. - Nguyên nhân v chiến tranh: Chiến tranh để lại hậu quả nặng n , thương tật, bệnh tật, nhi u đứa trẻ mất cha, mất mẹ trở thành mồ côi, không có người thân chăm sóc phải lao động sớm, lang thang kiếm sống và là những nguyên nhân chính gây lên trẻ em tàn tật bẩm sinh. Hiện còn hàng vạn tấn bom đạn chưa nổ nằm rải rác trên một số đồng ruộng, cánh rừng, sông ngòi, ao hồ và c c khu dân cư trên đất nước ta là nguyên nhân dẫn đến hàng nghìn trẻ em bị thương tật vĩnh viễn. Chất độc hoá học do Mỹ đã sử dụng ở Việt Nam cũng là một nguyên nhân quan trọng gây lên tàn tật, không những ảnh hưởng đối với những người trực tiếp sống trong thời kỳ chiến tranh mà còn ảnh hưởng đến các thế hệ gián tiếp và qua nhi u thế hệ.
Hậu quả chất độc hoá học trong chiến tranh còn kéo dài cho nhi u thế hệ và để lại gánh nặng cho xã hội mà đối tượng gánh chịu trực tiếp là số trẻ em tàn tật được sinh ra. Nhóm nguyên nhân chủ quan - Nhận thức v vấn đ trẻ em có HCĐB còn hạn chế Không chỉ riêng nhận thức của trẻ em, gia đình mà còn cả xã hội v vấn đ trẻ em có HCĐB còn nhi u hạn chế, chưa thấy được trách nhiệm tổ chức thực hiện và nguy hại đối với xã hội, đặc biệt là mối quan hệ gắn li n với vấn đ trẻ em có HCĐB với phát triển nguồn nhân lực cao trong tương lai Sự thiếu hụt v đầu tư của Nhà nước vào một số vùng, địa phương, sự thiếu quan tâm của các cấp, chính 16 quy n, sự thiếu trách nhiệm của một số bậc cha mẹ trong việc chăm sóc, bảo vệ và giáo dục trẻ em, sự nhạy cảm của trẻ em với môi trường sống đang là những nguyên nhân làm cho tình trạng trẻ rơi vào HCĐB ngày càng tăng - Những nguyên nhân thuộc v gia đình Những biến đổi nhanh chóng của sản xuất, đời sống, giao thông liên lạc, thông tin đại chúng đang làm thay đổi những mối quan hệ của con người trong gia đình và xã hội. Hiện tượng li hôn, li thân, sinh con ngoài giá thú, bỏ rơi con không còn là c biệt mà đã trở thành phổ biến tăng lên nhi u lần trong những năm qua ột số bậc cha mẹ khác do phải lo kinh tế thiếu sự chăm sóc, bỏ mặc con cái khi các em bỏ học hoặc đi lang thang, kiếm sống, bụi đời. Một số kh c có xu hướng khuyến khích con cái bỏ học đi làm nhằm tăng thêm thu nhập cho gia đình và bớt gánh nặng v kinh tế.
Số gia đình khác do quá nghèo hoặc bệnh tật, sức khoẻ yếu không đủ đi u kiện để chăm sóc hoặc cho con đi học. Ngoài ra, một số gia đình bố mẹ quá khắt khe, cư xử thô bạo, hắt hủi con cái làm chúng sợ hãi, xa lánh. Chính sự thiếu hiểu biết, nhận thức hạn chế, thiếu trách nhiệm hoặc thiếu biện pháp quản lý trong việc chăm sóc con c i của một số bậc cha mẹ và gia đình là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng gia tăng trẻ em có HCĐB. - Những nguyên nhân thuộc v chính bản thân các em Đây là những nguyên nhân chủ quan thuộc v chính bản thân các em, trong đi u kiện môi trường sống khó khăn và nhi u cạm bẫy, ý thức vượt khó của trẻ giữ một vị trí đặc biệt quan trọng.
Trên thực tế đã có không ít trẻ không chịu được sức ép, sự cám dỗ của môi trường sống, sức ép kinh tế, không chịu học tập, tu dưỡng, rèn luyện, ăn chơi, đàn đúm hoặc bỏ nhà đi lang thang chạy theo lối sống đua đòi, mắc vào tệ nạn xã hội, vi phạm pháp luật. trở thành những trẻ em có HCĐB.