phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo thì luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về công tác xã hội với nạn nhân bạo lực gia đình. Chƣơng 2: Thực trạng bạo lực gia đình và công tác xã hội với bạo lực gia đình trên địa bàn thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng. Chƣơng 3: Một số biện pháp nhằm giảm thiểu bạo lực gia đình trên địa bàn thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng. Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI NẠN NHÂN BẠO LỰC GIA ĐÌNH 1.
Một số lý thuyết công tác xã hội ứng dụng trong nghiên cứu Các lý thuyết trong công tác xã hội thì rất nhiều mỗi lý thuyết sẽ phù hợp và có ý nghĩa nhất định với cách tiếp cận khác nhau ở những lĩnh vực nghiên cứu. Trong nghiên cứu công tác xã hội với nạn nhân bạo lực gia đình chúng tôi vận dụng các lý thuyết sau: 1. Lý thuyết về gia đình Gia đình là một cộng đồng ngƣời sống chung và gắn bó với nhau bởi các mối quan hệ tình cảm, quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dƣỡng và quan hệ giáo dục. Gia đình có lịch sử từ rất sớm và đã trải qua một quá trình phát triển lâu dài.
Thực tế, gia đình có những ảnh hƣởng và những tác động mạnh mẽ đến xã hội. 7 Đối với xã hội học, gia đình thuộc về phạm trù cộng đồng xã hội. Vì vậy, có thể xem xét gia đình nhƣ một nhóm xã hội nhỏ, đồng thời nhƣ một thiết chế xã hội mà có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình xã hội hóa con ngƣời. Gia đình là một thiết chế xã hội đặc thù, một nhóm xã hội nhỏ mà các thành viên của nó gắn bó với nhau bởi quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ con nuôi, bởi tính cộng đồng về sinh hoạt, trách nhiệm đạo đức với nhau nhằm đáp ứng những nhu cầu riêng của mỗi thành viên cũng nhƣ để thực hiện tính tất yếu của xã hội về tái sản xuất con ngƣời.
Lý thuyết hệ thống sinh thái Lý thuyết hệ thống đƣợc khởi xƣớng bởi nhà sinh học ngƣời Áo là Ludving Von Bertalanffy (1901-1972), ông đƣa ra tƣ tƣởng Lý thuyết hệ thống cơ thể năm 1930, chính thức viết lý thuyết hệ thống năm 1949, xuất bản lý thuyết hệ thống tổng thể năm 1968.R Ashby (1917-1999) là nhà tâm lý học ngƣời Anh. Ông viết nhập môn điều khiển học năm 1956 với những ý tƣởng từ lý thuyết hệ thống của Bertalanffy và Wiener. Ông đƣợc xem là cha đẻ của lý thuyết hệ thống và điều khiển học. [17] Novert Wiener là nhà triết học toán ngƣời Nga, gốc do Thái, nhập cƣ ở Mỹ.
Ông là tác giả của “Điều khiển học hay sự điều khiển và giao tiếp trên loài và máy móc” (1948). Claude Elwood Shannon là nhà toán học ngƣời Mỹ, ông sáng lập lý thuyết thông tin hiện đại. Với triết lý “thông tin không phải vật chất hoặc ý thức, thông tin là thông tin”. Ông có ƣớc vọng trình bày lý thuyết hệ thống dƣới dạng phi toán học.
Parson là nhà xã hội học ngƣời Mỹ. Tác phẩm tiêu biểu là Ấn phẩm “hệ thống xã hội”. Ông nhìn hệ thống xã hội ở 4 khía cạnh: thích ứng, đạt mục tiêu, hội nhập và duy trì hệ thống. 8 Thuyết hệ thống đƣợc sử dụng trong công tác xã hội nhƣ một công cụ trợ giúp nhân viên xã hội khi học phải sắp xếp, tổ chức những lƣợng thông tin lớn thu thập đƣợc để xác định mức độ nghiêm trọng của vấn đề và tìm cách can thiệp.
Ví dụ nhƣ khi nhân viên xã hội với cá nhân/nhóm/cộng đồng với rất nhiều những tác động phức tạp giữa đối tƣợng và những sự kiện xảy ra. Việc tổ chức thông tin thành hệ thống sẽ giúp nhân viên xã hội nhìn nhận vấn đề sáng tỏ hơn. Mỗi thành viên trong hệ thống gia đình đều có sự tƣơng tác lẫn nhau và mỗi hệ thống gia đình lại tƣơng tác với môi trƣờng xã hội mà nó đang sống. [17] Thuyết hệ thống sinh thái là một lý thuyết rất quan trọng trong nền tảng triết lý của ngành Công tác xã hội nó nói lên sự liên hệ giữa các hệ thống (các tổ chức nhóm) và vai trò của cá nhân trong môi trƣờng sống.
Lý thuyết này dựa trên giả thiết rằng, mỗi cá nhân đều trực thuộc vào môi trƣờng và hoàn cảnh sống. Cả cá nhân và môi trƣờng đều đƣợc coi là một sự thống nhất, mà trong đó các yếu tố liên hệ và trực thuộc lẫn nhau rất chặt chẽ (Compton, 1989). [17] Trong mỗi môi trƣờng sinh thái, các hệ thống hoạt động vừa có tính chất riêng biệt và phức tạp, vừa có sự trao đổi liên kết chặt chẽ giữa chúng. Để hiểu biết về một yếu tố nào đó trong môi trƣờng (ví dụ nhƣ một cá nhân), chúng ta phải nghiên cứu để hiểu cả hệ thống môi trƣờng xung quanh của nó.
Vì vậy, trong công tác xã hội bất cứ một việc can thiệp hoặc giúp đỡ một cá nhân của một tổ chức nào đó đều có liên quan và ảnh hƣởng đến toàn bộ hệ thống đó. Trong lý thuyết này, tất cả các vấn đề của con ngƣời phải đƣợc nhìn nhận một cách tổng thể trong mối quan hệ với các yếu tố khác, chứ không chỉ nhìn nhận và tác động một cách đơn lẻ. Mọi ngƣời trong hoàn cảnh sống đều có những hành động và phản ứng ảnh hƣởng lẫn nhau, và một hoạt động can thiệp hoặc giúp đỡ với một ngƣời sẽ có ảnh hƣởng đến 9 những yếu tố xung quanh. Vì thế, trong các hoạt động công tác xã hội, chúng ta phải nhìn vấn đề cần thay đổi trên nhiều phƣơng diện và ở nhiều mức độ khác nhau, trên lĩnh vực cá nhân, gia đình, cộng đồng, xã hội và thế giới.
[17] Môi trƣờng bao gồm ba cấp độ: Cấp độ vi mô là các quan hệ trực tiếp của từng cá nhân, hay nói cách khác, nó chính là cuộc sống của cá nhân mỗi con ngƣời. Ví dụ gia đình là nơi cá nhân sinh ra và lớn lên có ảnh hƣởng trực tiếp; lớp học là nơi cá nhân tham gia hàng ngày để thu thập kiến thức kỹ năng; cơ quan là nơi cá nhân cống hiến sức lao động và sự sáng tạo để khẳng định mình. [17] Cấp độ trung mô bao gồm hai loại: Cấp trung mô nội sinh và cấp trung mô ngoại sinh. Cấp trung mô nội sinh: ví dụ mối liên lạc giữa gia đình và nhà trƣờng, gây nên sự ảnh hƣởng trực tiếp tới học sinh.
Cấp trung mô ngoại sinh: Ví dụ nơi làm việc của ngƣời cha, nhƣng sự kiện xảy ra tại nơi làm việc của cha nhƣ bị sa thải, hoặc tăng lƣơng có thể ảnh hƣởng đến thái độ của anh ta với con mình khi anh ta trở về nhà từ đó ảnh hƣởng đến đứa trẻ. [17] Cấp độ vĩ mô: Là những yếu tố là bản chất hay quy định của xã hội, cộng đồng có ảnh hƣởng đến cá nhân nằm trong đó. Nhƣ chính sách, văn hóa, tôn giáo, kinh tế, chính trị đã tác động tới cuộc sống các thành viên. [17] Tăng cƣờng khả năng xây dựng và giải quyết các vấn đề cho thân chủ.
Nhân viên công tác xã hội cần thể hiện vai trò: khả năng giúp đỡ; giảng giải giúp thân chủ học các kỹ năng giải quyết vấn đề, phân loại nhận thức, đƣa ra những thông tin phù hợp thiết lập mô hình hành vi; tạo điều kiện thuận lợi cho thân chủ bằng việc duy trì sự tự do của thân chủ về hành động từ những áp lực không phù hợp, xác định những nhiệm vụ huy động sự trợ giúp của môi trƣờng; làm trung gian hòa giải; biện hộ; tổ chức nhƣ 10 việc đƣa thân chủ vào các mối tƣơng tác với nhau hoặc tạo dựng những mạng lƣới xã hội mới. Điểm mạnh của lý thuyết hệ thống sinh thái là tạo đƣợc một cách tiếp cận thống nhất từ các quan điểm khác nhau của tâm lý học, xã hội và cộng đồng. Nó mang tính tƣơng tác giúp thúc đẩy cách hiểu về tác động giữa các cá nhân và cá nhân với hệ thống. Bên cạnh đó, cho phép có sự tích hợp các quan điểm lý luận.
Đồng thời, định hƣớng cho việc đánh giá về hành vi. Điểm hạn chế của lý thuyết hệ thống sinh thái là không mang tính mô tả, là một lý thuyết tổng quát, khó áp dụng vào các tình huống cụ thể, là lý thuyết có nhiều mối liên kết nhƣng lại không đƣa ra lý thuyết cụ thể nào để kết nối các lý thuyết đó theo cách giải thích. Có thể nói, nạn nhân của bạo lực gia đình cũng là một cá nhân trong xã hội, chính vì vậy mà cũng chịu tác động của các tiểu hệ thống bên ngoài. Đó là gia đình, xã hội, các tổ chức đoàn thể chính quyền, bệnh viện, tòa án.
Vận dụng lý thuyết hệ thống đã chỉ ra mối liên kết tất yếu trong mạng xã hội giữa cá nhân với cá nhân, với nhóm và ngƣợc lại. Đó là mối liên hệ giữa nạn nhân bạo lƣc gia đình với ngƣời gây ra bạo lực, với gia đình, ông bà cha mẹ và ngƣợc lại. Trong việc hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình không thể không chú ý đến sự ảnh hƣởng qua lại đó. Tạo dựng và phát huy những tiềm năng, sức mạnh của hệ thống sẽ tạo nên những lợi thế trong việc trợ giúp nạn nhân của bạo lực gia đình.
Thuyết hệ thống sinh thái nhấn mạnh đến sự tƣơng tác giữa con ngƣời với môi trƣờng sinh thái của mình. Theo thuyết này cuộc sống của mỗi con ngƣời phụ thuộc vào môi trƣờng xã hội mà họ sinh sống, trong đó có những mối quan hệ tƣơng tác lẫn nhau giữa các hệ thống. Khi can thiệp vào bất cứ điểm nào trong hệ thống thì cũng sẽ tạo ra sự thay đổi trong toàn hệ thống. Môi trƣờng sinh thái bao gồm: (1) Cấp vi mô: Là các quan hệ 11 trực tiếp tác động đến cá nhân của mỗi ngƣời; (2) Cấp trung mô: Là sự tƣơng tác giữa các hệ thống ở cấp vi mô ảnh hƣởng trực tiếp đến cá nhân hoặc môi trƣờng ảnh hƣởng đến cá nhân nhƣng họ không nằm trong đó; (3) Cấp vĩ mô: Là những yếu tố bản chất hay quy định của xã hội, cộng đồng có ảnh hƣởng đến cá nhân nằm trong đó.
Vận dụng lý thuyết này, chúng ta có thể hiểu rằng, mỗi một gia đình là một tế bào của xã hội. Trong gia đình hòa thuận, bình an thì sẽ tập trung phát triển kinh tế, tạo cảm giác an tâm cho mọi thành viên. Từ đó, sẽ dẫn đến một xã hội văn minh, các quyền của con ngƣời đƣợc duy trì và thực thi có hiệu quả.