Chương 1. Cơ sở lý luận của Quản lý nhà nước về thi đua khen thưởng; Chương 2. Quản lý nhà nước về thi đua khen thưởng đối với các trường cao đẳng trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay Chương 3. Giải pháp nâng cao chất lượng quản lý nhà nước về thi đua, khen thưởng đối với các trường cao đẳng trên địa bàn thành phố Hà Nội.
10 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ THI ĐUA KHEN THƢỞNG 1. Lý luận chung về thi đua khen thƣởng 1. Khái niệm thi đua * Thi đua là gì Về mặt lý luận, thi đua được bàn đến từ khá sớm.Ănghen là những người đầu tiên nghiên cứu một cách khoa học về bản chất và nội dung của vấn đề này. Ông đã nghiên cứu vấn đề thi đua khi đặt cạnh với cạnh tranh.Mác, gốc rễ của cạnh tranh là chế độ tư hữu, còn thi đua xuất hiện tất yếu trong chế độ xã hội chủ nghĩa.
Nếu như cạnh tranh là cố gắng giành lấy phần hơn, phần thắng về mình giữa những người, những tổ chức với nhau nhằm những lợi ích cho riêng mình thì thi đua xuất phát từ lợi ích tập thể, là sự cộng lại sức mạnh lao động của từng cá nhân trong tập thể đó. Ông cho rằng “Thi đua nảy nở trong quá trình hợp tác lao động, trong hoạt động chung và kế hoạch của con người. Sự tiếp xúc xã hội tạo nên thi đua và nâng cao theo lối đặc biệt tăng thêm nghị lực cho riêng từng người” [10, tr. Kế thừa những tư tưởng, quan điểm của C.Ănghen, Lênin cho rằng thi đua là một hình thức hợp tác giữa người với người nhằm phát triển năng lực của con người, phát triển tính chủ động, sáng tạo của nhân dân và của chế độ dân chủ trong xã hội mới, được ra đời trên cơ sở mối quan hệ tương trợ và hợp tác, đoàn kết đồng chí, giúp đỡ những người lạc hậu dần dần tiến lên ngang với những người tiên tiến, nâng cao trình độ văn hóa và trình độ sinh hoạt tinh thần của mọi người.
Theo Đại từ điển Tiếng Việt, “Thi đua là việc cùng nhau đưa hết khả năng ra làm nhằm thúc đẩy lẫn nhau, đạt được thành tích tốt nhất trong một hoạt động nào đó” [31, tr. Chủ tịch Hồ Chí Minh là người vận dụng sáng tạo những quan điểm cơ bản của Chủ nghĩa Lênin về thi đua, thi đua xã hội chủ nghĩa vào hoàn cảnh 11 nước ta và đã nâng quan niệm về thi đua lên tầm tư tưởng, đường lối chính trị, coi thi đua yêu nước là biểu hiện của lòng yêu nước của Việt Nam. Người khẳng định rõ “Thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua, những người thi đua là những người yêu nước nhất”, Người nhấn mạnh rằng “Thật ra công việc hàng ngày chính là nền tảng thi đua. Thí dụ từ trước đến nay, ta vẫn ăn, vẫn mặc, vẫn ở.
Nay ta thi đua ăn, ở, mặc sao cho sạch, cho hợp vệ sinh, khỏi đau ốm. Xưa nay ta vẫn làm ruộng, nay ta thi đua làm sao cho ruộng tốt hơn, sản xuất nhiều hơn, mọi việc đều thi đua như vậy” [23, tr. Như vậy, thi đua là một hoạt động có tổ chức dựa trên nguyên tắc tự nguyện, được thực hiện theo những nguyên tắc quy định, căn cứ, tiêu chuẩn cụ thể để phân biệt giữa thi đua có tổ chức và thi đua tự phát. * Nguyên tắc của thi đua Nguyên tắc quan trọng nhất của thi đua yêu nước là tự nguyện, đoàn kết, hợp tác cùng phát triển, phổ biến sáng kiến kinh nghiệm, nhân rộng điển hình tiên tiến để mọi người cùng học tập, giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ, không có đối kháng về lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội, mọi người đều mang hết nhiệt tình và khả năng của mình để cống hiến cho công cuộc kiến thiết đất nước.
* Mục đích của thi đua Mục đích của thi đua là nhằm thực hiện thắng lợi các mục tiêu kinh tế, chính trị, xã hội và đặc biệt là giáo dục và bồi dưỡng tư tưởng mới, đạo đức mới, nhằm rèn luyện nhân cách cao đẹp cho người lao động, làm cho người phát triển hoàn thiện hơn. * Mục tiêu của thi đua Mục tiêu của thi đua là nhằm tạo động lực động viên, lôi cuốn, khuyến khích mọi cá nhân, tập thể phát huy truyền thống yêu nước, năng động, sáng tạo vươn lên hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Ngày nay, trong nền kinh tế Việt Nam – nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều thành phần kinh tế, tổ chức tốt thi đua sẽ là giải pháp tích cực thủ tiêu sự cạnh tranh tự phát, tàn nhẫn và tiêu diệt lẫn nhau 12 do mặt tiêu cực của kinh tế thị trường gây ra; cùng với đó là khơi dậy, phát huy các nhân tố tích cực của cơ chế thị trường thúc đẩy sản xuất, tính sáng tạo, tích cực của người lao động; đồng thời góp phần nâng cao hiệu quả của tổ chức, nâng cao đời sống của người lao động, cùng với đó, góp phần giáo dục, đào tạo con người phát triển một cách toàn diện. Thi đua là quan hệ xã hội, quan hệ thi tài, mọi người được biểu lộ nghị lực của mình, khả năng sáng tạo của mình, nhưng không biến sự thi tài đó thành một cuộc chạy đua cạnh tranh trong cuộc đấu tranh sinh tồn mà nó làm mọi người cùng nhau học tập lẫn nhau, phấn đấu và đoàn kết trong hoạt động chung để đạt đến mục đích và lợi ích chung.
Khi đó, thi đua trở thành đòn bẩy của tiến bộ kinh tế, xã hội, đặc biệt trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay, trước thời cơ và thách thức mới của tình hình quốc tế, khu vực và trong nước, thi đua được xem là nhiệm vụ quan trọng nhằm phát huy động lực tinh thần và vật chất tạo nên sức mạnh nội sinh, lôi cuốn mọi người, mọi nhà, mọi tổ chức tạo thành phong trào quần chúng, phát huy truyền thống yêu nước, năng động, sáng tạo, vươn lên lập thành tích trên mọi lĩnh vực góp phần vào sự nghiệp đổi mới, đưa nước ta vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Khái niệm khen thưởng * Khen thưởng là gì Ở Việt Nam, khen thưởng có từ các triều đại phong kiến từ xa xưa khi các bậc vua chúa sử dụng đó như một trong những công cụ trong quản lý và cai trị đất nước có hiệu quả. “Khen” là nhận xét, đánh giá tốt về một con người nào đó, một tổ chức nào đó, về cái gì, việc gì đó với ý hài lòng; còn “Thưởng” là tặng tiền hoặc hiện vật để tỏ ý khen ngợi và khuyến khích cá nhân hay tổ chức đã có công hay việc làm xuất sắc. Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sỹ Liên đã kể đến nhiều hình thức khen thưởng trong thời phong kiến như khen thưởng người có công trong đánh giặc, người có công trong việc đi sứ, người phò tá có công lao tài đức, người tiến 13 cử người hiền tài, người hiến kế giúp nhà vua trị nước yên dân, người có lời tâu đúng, người cấp dưới giữ đúng phép công, không vị nể người quyền quý cấp trên, người có công làm thủy lợi, người có tài văn chương, người cao tuổi… [13, tr.226] * Đối tượng khen thưởng Đối tượng khen thưởng rất rộng rãi, từ người già đến trẻ em, nam giới đến nữ giới không phân biệt dân tộc, cứ ai có thành tích đều được khen thưởng.
* Hình thức khen thưởng Hình thức khen thưởng cũng rất đa dạng như được ban họ vua, được ghi công vào sử sách, được dựng bia ghi công, được phong chức, được thưởng vàng bạc, được cấp ruộng đất, truy phong, cấp ruộng cho con cháu thờ cúng… Lịch sử đã ghi nhận những hình thức khen thưởng đã được thực hiện dưới triều đại phong kiến như trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ II (1284 – 1285), Vua Trần đã tôn vinh người anh hùng nhỏ tuổi Trần Quốc Toản (11 tuổi) tử trận “Vua rất thương tiếc, thân làm văn tế, lại gia phong tước vương…”; thưởng cho Lê Kha Thảm 20 tấm lụa, 10 con ngựa vì đã đóng góp ba con voi, nhiều vòng vàng, vòng bạc…; khen Mạc Đĩnh Chi có tài văn chương làm quan sứ.24] Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng khẳng định “Thi đua là gieo trồng, khen thưởng là thu hoạch”. Vì vậy, lúc sinh thời, Người rất quan tâm đến việc khen thưởng. Người nêu rõ “Thưởng phạt phải nghiêm minh, có công thì thưởng, có lỗi thì phạt; có công mới có huân, phải có công huân mới được thưởng huân chương, thưởng cái nào đích đáng cái ấy… khen thưởng phải có tác dụng động viên, giáo dục, nêu gương”.20] Chính vì vậy, ngay khi giành được Chính quyền năm 1945, ngày 26/01/1946, Người đã ký ban hành Quốc lệnh 10 điều thưởng của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, gồm: 14 “1. Nhà nào có 3 con tòng quân sẽ được thưởng; 2.
Ai lập được quân công sẽ được thưởng; 3. Ai vì nước hy sinh sẽ được thưởng; 4. Ai ra trận can đảm phi thường sẽ được thưởng; 5. Ai làm việc một cách trong sạch, ngay thẳng sẽ được thưởng; 6.
Ai làm việc gì có lợi cho nước nhà, dân tộc, được dân chúng mến phục sẽ được thưởng; 7. Ai bỏ tiền ra xây đắp cầu cống, đê, đường sẽ được thưởng; 8. Ai bắt được những kẻ phản quốc sẽ được thưởng; 9. Ai liều mình về công việc sẽ được thưởng; 10.
Ai cứu được người bị nạn sẽ được thưởng”.19] Đây được xem như văn bản pháp lý đầu tiên đặt nền móng xây dựng ngành khen thưởng của nước ta, có tác dụng động viên, khuyến khích mọi người làm việc tốt, ích nước, lợi nhà và cảnh báo, răn đe những ai định làm việc xấu hại dân, hại nước. Người nêu trong Quốc lệnh “Trong một nước, thưởng phạt phải nghiêm minh thì nhân dân mới yên ổn, kháng chiến mới thắng lợi, kiến quốc mới thành công”. Luật Thi đua, khen thưởng lần đầu tiên ra đời năm 2003, qua 2 lần sửa đổi, bổ sung năm 2005 và gần đây nhất là năm 2013 đã nêu “Khen thưởng là việc ghi nhận, biểu dương, tôn vinh công trạng và khuyến khích bằng lợi ích vật chất đối với cá nhân, tập thể có thành tích trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.