phần Mở đầu, Kết luận, Khuyến nghị, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn đƣợc kết cấu gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luậnvề quản lý hoạt động chăm sóc, nuôi dƣỡng trẻ ở trƣờng mầm non. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý hoạt động chăm sóc, nuôi dƣỡng trẻ ở các trƣờng mầm non trên địa bàn huyện Vân Canh, tỉnh Bình Định Chƣơng 3:Biện pháp quản lý hoạt động chăm sóc, nuôi dƣỡng trẻ ở các trƣờng mầm non trên địa bàn huyện Vân Canh, tỉnh Bình Định. e 6 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG CHĂM SÓC, NUÔI DƢỠNG TRẺ Ở TRƢỜNG MẦM NON 1. Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề 1.
Nghiên cứu ở nước ngoài Trẻ ở các trƣờng mầm non đƣợc chăm sóc, nuôi dƣỡng tốt sẽ là yếu tố hết sức quan trọng cho sự phát triển của trẻ. Trẻ sẽ có đƣợc sức khỏe để học tập, vui chơi tốt nhất, phát triển cả về thể lực và trí lực. Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy khả năng ghi nhớ, tƣ duy, sự chú ý, mức độ dẻo dai trong học tập phụ thuộc rất nhiều vào trạng thái chung của sức khỏe và thể lực. Montessori bắt đầu phát triển phƣơng pháp và triết lý giáo dục của mình vào năm 1897, sau khi tham dự khóa học giáo dục tại trƣờng Đại học Rome và nghiên cứu các thuyết giáo dục hai trăm năm trƣớc đó.
Năm 1907, Bà mở lớp học đầu tiên của mình mang tên Casa dei Bambini, hay còn gọi là Children‟s House (Ngôi Nhà Trẻ Thơ) tại một khu căn hộ nằm ở thủ đô Roma. Ngay từ ban đầu, Montessori đã bắt đầu thực hiện phƣơng pháp giáo dục của mình thông qua quan sát những gì trẻ trải nghiệm với môi trƣờng xung quanh, với các học cụ và bài học đƣợc thiết kế dành riêng cho trẻ. Bà thƣờng gọi công việc mà mình đang làm là „giáo dục mang tính khoa học‟. Phƣơng pháp Montessori sau đó đƣợc phát triển và mở rộng ra toàn nƣớc Mỹ năm 1911 và đƣợc biết đến rất nhiều thông qua các phƣơng tiện thông tin, đặc biệt đã đƣợc xuất bản thành sách [28].
Trong nghiên cứu “Đánh giá hiệu quả của một chƣơng trình nuôi dạy chất lƣợng áp dụng trên một số trẻ em ở các gia đình bình thƣờng” tại trƣờng University Of Nevada, Tác giả Sower Michelle Denise, đã đánh giá cao sự ảnh hƣởng của gia đình đến việc chăm sóc trẻ cũng nhƣ chƣơng trình nuôi dạy trẻ[9]. Drirence Chatoor dựa trên 25 năm nghiên cứu, điều trị, đã giúp cho mọi e 7 ngƣời hiểu, xác định khó khăn đặc thù của trẻ nhƣ: Bé không biết đói? Bé ghét thức ăn? Bé không biết no? Hay vì bé sợ ăn? Qua cuốn sách “Bé yêu học ăn”, tác giả đã đƣa ra các phƣơng pháp khoa học, vừa dễ áp dụng giúp trẻ ăn tốt mà còn giúp ngƣời lớn xây dựng một môi trƣờng ăn uống cho trẻ khoa học [10]. Nghiên cứu ở trong nước Hoàng Tích Minh và Hà Huy Khôi đã biên soạn và xuất bản cuốn sách “Vệ sinh dinh dƣỡng và vệ sinh thực phẩm” năm 1977. Đây là cuốn sách đầu tiên về lĩnh vực dinh dƣỡng và vệ sinh thực phẩm.Cuốn sách đã cập nhật các kiến thức đƣơng thời về lĩnh vực khoa học này, đặc biệt các ông đã chú ý tham khảo các tài liệu mới của Tổ chức Y tế thế giới về “Tiêu chuẩn dinh dƣỡng” và “Đánh giá tình trạng dinh dƣỡng” [17].
Theo nghiên cứu của tác giả Tào Thị Hồng Vân về hoạt động chăm sóc sức khỏe trẻ cho thấy: Thể chất trẻ em Việt Nam trong hai thập kỷ qua đã đƣợc cải thiện rõ ràng, tuy nhiên cân nặng và chiều cao trẻ em nƣớc ta còn kém xa so với chỉ số của Tổ chức Y tế thế giới đƣa ra vào năm 1980[26]. Về sức khỏe tinh thần: Trẻ em Việt Nam gia tăng về chiều cao, cân nặng, tuổi dậy thì cũng đến sớm hơn trẻ em cùng lứa tuổi ở thập kỷ trƣớc. Về mặt xã hội, trẻ em đã có nhiều nhận thức về tâm sinh lý, tuổi trƣởng thành, sự phong phú về phƣơng diện tâm lý có xu hƣớng sớm hơn. Về sức khỏe xã hội: Những nghiên cứu có tính hệ thống để làm rõ khái niệm sức khỏe xã hội và đánh giá thực trạng sức khỏe xã hội của trẻ em Việt Nam còn thiếu.
Tuy nhiên, qua ý kiến của một số nhà nghiên cứu có thể đƣa ra nhận định sơ bộ là trẻ em Việt Nam còn chƣa đƣợc quan tâm rèn luyện đầy đủ về sức khỏe xã hội, do đó khả năng hòa nhập cộng đồng, tính tự chủ, lòng tự tin và khả năng tập hợp, chỉ huy cộng đồng còn hạn chế. Về tình hình bệnh tật và tử vong:Trong cuối thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21, bệnh tật của trẻ em nƣớc ta vẫn mang đặc điểm bệnh tật của trẻ em của các e 8 nƣớc đang phát triển, đặc điểm chủ yếu của mô hình bệnh tật các bệnh nhiễm khuẩn chiếm tỷ lệ cao. Khoa công nghệ của Trƣờng Đại học Công nghệ và Đại học Quốc gia Hà Nội khoa đã nghiên cứu sản phẩm “Hệ thống quản lý dinh dƣỡng cho các trƣờng mầm non và tiểu học”. Đây là công cụ hỗ trợ cho công tác đảm bảo dinh dƣỡng trong các trƣờng, nó không chỉ đƣa ra đƣợc các thông số về dinh dƣỡng cho thực đơn hàng ngày của các trƣờng, làm cơ sở cho việc đánh giá chất lƣợng dinh dƣỡng của bữa ăn, mà còn là một công cụ hữu ích cho ngƣời quản lý trong việc sắp xếp thực đơn trong các trƣờng mầm non, tiểu học [15].
Hiện nay, theo các tài liệu nghiên cứu ở cấp quốc gia có nhiều công trình, giải pháp cải tiến công tác quản lý chỉ đạo, đáp ứng việc nâng cao chất lƣợng giáo dục mầm non đƣợc nhìn nhận từ nhiều góc độ khác nhau nhƣ: Cẩm nang một số vấn đề chăm sóc giáo dục sức khỏe, dinh dƣỡng, môi trƣờng cho trẻ mầm non, năm 2005 của Vụ Giáo dục mầm non đã đƣa ra một số nguyên nhân ảnh hƣởng đến sức khỏe trẻ và biện pháp khắc phục. Đề tài “Tiếp tục đổi mới công tác quản lý nâng cao chất lƣợng chăm sóc, giáo dục trẻ” của Lê Minh Hà (2011),đã đánh giá chất lƣợng chăm sóc, nuôi dƣỡng trẻ vẫn còn nhiều hạn chế, do đó cần tiếp tục đổi mới để nâng cao chất lƣợng chăm sóc, giáo dục trẻ tại các trƣờng mầm non là rất cần thiết [13]. Đề tài “Chƣơng trình chăm sóc, giáo dục mầm non về những vấn đề lý luận và thực tiễn” của tác giả Trần Thị Ngọc Trâm,đã có những đóng góp hữu ích về việc xây dựng chƣơng trình chăm sóc, giáo dục trẻ mầm non. Đó là phải có sự kết hợp giữa lý luận và thực hành, trên cơ sở lý luận để tiến hành thực hành và thông qua thực hành để hoàn thiện hơn lý luận [25].
Trong những năm gần đây, đã có một số luận văn thạc sĩ chuyên ngành quản lý giáo dục nghiên cứu về hoạt động chăm sóc, nuôi dƣỡng và giáo dục trẻ ở các trƣờng mầm non nhƣ: Đề tài “Quản lý hoạt động nuôi dƣỡng và chăm sóc trẻ tại các trƣờng mầm e 9 non huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội” của tác giả Phạm Thị Tánh [24]. Đề tài “Biện pháp quản lý hoạt động nuôi dƣỡng và chăm sóc trẻ tại các trƣờng mầm non thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa” của tác giả Phạm Thị Châu Anh [1]. Đề tài “Biện pháp quản lý hoạt động chăm sóc và giáo dục trẻ tại các trƣờng mầm non tƣ thục trên địa bàn thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định”của tác giả Hà Thị Nhƣ Ý [25]. Đề tài “Quản lý hoạt động chăm sóc, nuôi dƣỡng trẻ tại các trƣờng mầm non trên địa bàn thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định” của tác giả Nguyễn Thị Ngọc Quyền[22].
Thông qua các công trình nghiên cứu trên, chúng tôi nhận thấy: Các đề tài đã trình bày đƣợc cơ sở lý luận về quản lý hoạt động chăm sóc, nuôi dƣỡng trẻ; tiến hành khảo sát đánh giá thực trạng của vấn đề nghiên cứu; từ đó các tác giả đề xuất những biện pháp nhằm nâng cao chất lƣợng, hiệu quả hoạt động chăm sóc, nuôi dƣỡng và giáo dục trẻ ở các trƣờng mầm non trên những địa bàn nghiên cứu cụ thể theo tên đề tài nghiên cứu. Huyện Vân Canh là một huyện miền núi của tỉnh Bình Định, hoạt động chăm sóc, nuôi dƣỡng trẻ mầm non tại các trƣờng mầm non trên địa bàn huyện còn nhiều vấn đề cần nghiên cứu để đánh giá đƣợc thực trạng tình hình chăm sóc và nuôi dƣỡng trẻ tại huyện Vân Canh và qua đó đề xuất các biện pháp phù hợp để nâng cao chất lƣợng hoạt động chăm sóc và nuôi dƣỡng trẻ tại các trƣờng mầm non. Chúng tôi nhận thấy vấn đề này có ý nghĩa lý luận và thực tiễn rất lớn đối với giáo dục mầm non ở huyện Vân Canh. Các khái niệm chính của đề tài 1.
Trẻ em, trẻ mầm non a) Trẻ em Theo Điều 1 của Công ƣớc Liên hợp quốc về quyền trẻ em, đƣợc thông qua ngày 20/11/1989 tại Viên (Áo) và có hiệu lực từ ngày 02/9/1990 thì: “Trẻ e 10 em có nghĩa là ngƣời dƣới 18 tuổi, trừ trƣờng hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó có quy định tuổi thành niên sớm hơn”. Nhƣ vậy, để xác định một ngƣời có phải là trẻ em hay không thì phải căn cứ vào tuổi của chính ngƣời đó chứ không có tiêu chí nào khác. Các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam đã phê chuẩn Công ƣớc này đều phải tuân thủ về tuổi của trẻ em là ngƣời dƣới 18 tuổi. Tuy nhiên, ở Việt Nam chƣa có quy định thống nhất về độ tuổi của trẻ em và ngƣời chƣa thành niên, vì vậy định nghĩa về trẻ em cũng đƣợc quy định khác nhau ở nhiều văn bản pháp luật nƣớc ta, cụ thể: Điều 1 của Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2016 quy định: “Trẻ em là ngƣời dƣới 16 tuổi”.
Theo quy định này thì trẻ em Việt Nam là tất cả những ngƣời từ chƣa đủ 16 tuổi. Đó có thể là những trẻ sơ sinh, là những bé trong nhà trẻ, mẫu giáo, là các em học sinh trong các trƣờng tiểu học, trung học cơ sở hoặc trung học phổ thông với điều kiện duy nhất là các em đó chƣa đủ 16 tuổi (tính theo tháng). b) Trẻ mầm non Những tài liệu về tâm lí học trẻ em Việt Nam đã phân định lứa tuổi của trẻ em. Theo đó, trẻ mầm non là trẻ em trong độ tuổi từ 3 tháng tuổi đến 6 tuổi.
Trẻ mầm non là giai đoạn sự tăng trƣởng cơ thể phát triển khá nhanh, cơ quan tiêu hóa của trẻ phát triển hoàn thiện hơn.