Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC TỔ CHỨC TRÒ CHƠI HỌC TẬP CHO GIÁO VIÊN MẦM NON 1. Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Trên thế giới Những công trình nghiên cứu về trò chơi học tập (TCHT) đối với sự phát triển toàn diện của trẻ: Các nhà tâm lí học, giáo dục học Nga - Xô Viết đã đi sâu nghiên cứu vai trò của TCHT đối với việc giáo dục, phát triển nhân cách toàn diện cho trẻ. TCHT được nghiên cứu, xem xét như là một phương pháp giáo dục nhân cách toàn diện cho trẻ, trong đó có giáo dục trí tuệ.
Đại diện tiêu biểu như: A. Uxova, trong tác phẩm "Dạy học ở mẫu giáo" cho rằng TCHT rất gần với việc dạy học, nó là hình thức học tập độc đáo. TCHT được sử dụng để dạy ngôn ngữ, dạy tính, để trẻ làm quen với kích thước, màu sắc, hình dáng…những trò chơi này cũng phát triển sự vận động, sự nhanh trí, sự phát triển ý chí, tư duy và ngôn ngữ… cho trẻ. "Nếu TCHT được sử dụng thành hệ thống sẽ góp phần đắc lực vào việc phát triển các quá trình tri giác, cảm giác và biểu tượng của trẻ mẫu giáo" [trích theo 23; tr9].
Trong tác phẩm "Những trò chơi có luật trong trường mẫu giáo" A. Baturina cho rằng TCHT thực hiện chức năng của hoạt động thực hành, nó tạo điều kiện cần thiết để thúc đẩy và kết hợp các kiến thức, thúc đẩy hoạt động trí tuệ, trong hệ thống trò chơi này có một số trò chơi đòi hỏi trẻ phải khái quát các hiện tượng cụ thể, phải sử dụng các thao tác so sánh và khái quát hóa…[trích theo 23; tr9]. Đan xova, trong tác phẩm "Trò chơi dạy học cho trẻ em mẫu giáo" đã nhận định nhờ dùng các TCHT mà việc học ở trẻ trở nên vừa sức hấp dẫn, nhiệm vụ dạy học được giải quyết trong quá trình chơi, tác giả đã đưa 7 ra gần 200 trò chơi học tập phổ biến nhằm phát triển tiếng nói và dạy trẻ học [trích theo 23; tr9]. Leonchep, trong công trình nghiên cứu về cơ sở tâm lý học của trò chơi ở tuổi mẫu giáo đã viết: "Những TCHT thực sự (Chính là trò chơi, chứ không phải bài học) chính là một loạt thao tác chuẩn bị được đưa vào nhiệm vụ chơi… Đó là những trò chơi chuẩn bị cho các thao tác nhận thức phát triển, các thao tác cần cho hoạt động học tập sau này của trẻ…Chỉ có thể thấy rõ ý nghĩa của các trò chơi ấy khi xem xét một vấn đề chuyên môn - vấn đề phát triển các thao tác trí tuệ cho học sinh mẫu giáo".
Chikhiepva đã viết: “ Cũng không nên đánh giá trò chơi học tập chỉ về mặt mục đích học tập hiển nhiên của nó, tức là định hướng của trẻ trong các biểu tượng này hay biểu tượng khác… Những trò chơi này đẩy mạnh sự phát triển tất cả mọi mặt của cá nhân trẻ, trò chơi đã tổ chức trẻ lại với nhau nâng cao tính tự lập của trẻ. Nếu như cô giáo tiến hành trò chơi một cách khéo léo và sinh động thì trẻ rất thích thú và tràn ngập niềm vui, như thế sẽ tăng thêm ý nghĩa của trò chơi học tập”[trích theo 26]. Như vậy, trên thế giới đã có công trình nghiên cứu về TCHT với những ý nghĩa khác nhau nhưng tựu chung lại là đều nhằm phát triển toàn diện cho trẻ, trong đó có ý nghĩa đặc biệt đối với việc phát triển trí tuệ, giáo dục nhân cách toàn diện cho trẻ. Nhưng bên cạnh đó chưa có công trình nghiên cứu nào đi sâu nghiên cứu về việc quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực tổ chức trò chơi học tập cho giáo viên.
Do vậy những công trình nghiên nêu trên chính là nguồn tài liệu tham khảo để tôi kế thừa và phát triển trong nghiên cứu luận văn của mình. Ở Việt Nam Những công trình nghiên cứu về TCHT đối với sự phát triển toàn diện của trẻ. Có 2 hướng nghiên cứu cơ bản: Một là, nghiên cứu bản chất, vai trò của TCHT đối với sự phát triển trí tuệ và sự hình thành phát triển nhân cách trẻ. Các đại diện tiêu biểu như: Nguyễn Ánh Tuyết, Đào Thanh Âm, Lê Thu Hương,… đã trình bày trong các 8 giáo trình "Tâm lý học trẻ em", "Giáo dục học mầm non" của các khoa sư phạm đào tạo giáo viên mầm non trình độ đại học, cao đẳng, trung học và nội dung lý luận về trò chơi luôn giữ một vị trí quan trọng.
Gần đây, trong giáo trình "Tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ mầm non" của tác giả Đinh Văn Vang cũng khẳng định vai trò rất quan trọng của TCHT đối với sự phát triển của trẻ. "Trò chơi học tập là phương tiện, con đường cơ bản để phát triển trí tuệ cho trẻ mầm non…Về phương tiện phát triển trí tuệ, TCHT trở thành phương tiện quan trọng hơn cả…TCHT được xem là phương tiện cơ bản mang lại hiệu quả cao cho việc phát triển trí tuệ cho trẻ mẫu giáo". Bên cạnh đó tác giả này cũng cho rằng: "Về phương diện tư duy, TCHT được xem là phương tiện để rèn luyện các thao tác tư duy cho trẻ…trẻ biết nhìn nhận, phân tích, đánh giá, khái quát hóa các sự vật và hiện tượng [trích theo 23; tr11] Hai là, nghiên cứu thiết kế và đưa ra cách sử dụng TCHT nhằm phát triển trí tuệ, với các đại diện tiêu biểu như: Đào Như Trang, Nguyễn Thị Hòa, Đỗ Thị Minh Liên, Lê Thị Ngọc Bích, Nguyễn Thị Ngọc Trâm, Trương Thị Xuân Huệ, Vũ Thị Ngân,… Qua tác phẩm "Luyện tập toán qua trò chơi cho trẻ mẫu giáo 5 tuổi chuẩn bị vào lớp 1" tác giả Đào Như Trang đã thiết kế các TCHT nhằm luyện tập các biểu tượng số, biểu tượng hình dạng, biểu tượng kích thước, biểu tượng về định hướng không gian. Trong luận án tiến sĩ giáo dục học "Biện pháp tổ chức TCHT nhằm phát huy tính tích cực nhận thức của trẻ MGL (5-6 tuổi) ", tác giả Nguyễn Thị Hòa đã đề xuất các biện pháp tổ chức TCHT nhằm phát huy tính tích cực nhận thức cho trẻ 5-6 tuổi [trích theo 23; tr11].
Đồng tác giả Nguyễn Ngọc Bảo - Đỗ Thị Minh Liên trong tác phẩm "Sử dụng TCHT nhằm hình thành biểu tượng toán học sơ đẳng cho trẻ mẫu giáo", đã thiết kế một số TCHT hình thành biểu tượng toán cho trẻ mẫu giáo và chủ yếu tập trung đưa ra biện pháp sử dụng TCHT nhằm hình thành các biểu tượng toán học sơ đẳng cho trẻ mẫu giáo. Còn tác giả Trương Thị Xuân Huệ, trong luận án tiến sĩ của mình là "Xây dựng và sử dụng trò chơi phát triển nhằm hình thành các biểu tượng toán ban đầu cho trẻ 5-6 tuổi" đã tập trung vào nghiên cứu 9 quy trình xây dựng và mô hình sử dụng trò chơi phát triển nhằm hình thành các biểu tượng toán ban đầu ở trẻ 5-6 tuổi [trích theo 23; tr12]. Như vậy, đã có những công trình nghiên cứu về TCHT đối với sự phát triển toàn diện của trẻ, trong đó nổi bật hơn cả là phát triển trí tuệ, song chưa có công trình nghiên cứu nào đi sâu nghiên cứu về việc quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực tổ chức trò chơi học tập cho giáo viên, bởi để phát huy hết tác dụng của trò chơi học tập thì hoàn toàn phụ thuộc vào năng lực tổ chức của giáo viên và trên hết để nâng cao năng lực tổ chức trò chơi học tập cho giáo viên thì cần thiết phải có một hệ thống các biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực tổ chức trò chơi học tập cho giáo viên. Do vậy những công trình nghiên nêu trên chính là những tư liệu quý báu để tôi kế thừa và phát huy trong nghiên cứu của mình về việc quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực tổ chức trò chơi học tập cho giáo viên mầm non huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn.
Một số khái niệm cơ bản 1. Quản lý Thuật ngữ quản lý được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau trên cơ sở những cách tiếp cận khác nhau: Quản lý (Management) là một loại hình lao động của con người trong cộng đồng nhằm thực hiện các mục tiêu mà tổ chức hoặc xã hội đặt ra. Trong xã hội loài người, quản lý là một hoạt động bao trùm mọi mặt đời sống xã hội. Quản lý là nhân tố không thể thiếu được trong đời sống và sự phát triển của xã hội.
Loài người đã trải qua nhiều thời kỳ phát triển với nhiều hình thái xã hội khác nhau nên cũng trải qua nhiều hình thức quản lý khác nhau. Các triết gia, các nhà chính trị từ thời cổ đại đến nay đều rất coi trọng vai trò của quản lý trong sự ổn định và phát triển của xã hội. Nó là một phạm trù tồn tại khách quan và là một tất yếu lịch sử. Quản lý chứa đựng nội dung rộng lớn, đa dạng phức tạp và luôn vận động, biến đổi, phát triển.
Vì vậy, khi nhận thức về quản lý, khái niệm quản lý có nhiều cách tiếp cận khác nhau như: Tác giả Nguyễn 10 Ngọc Quang quan niệm: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (khách thể quản lý) nhằm thực hiện những mục tiêu dự kiến”; Theo Nguyễn Quốc Chí - Nguyễn Thị Mỹ Lộc: Quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) - trong một tổ chức - nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức; Theo tác giả Trần Kiểm: Quản lý một hệ thống xã hội là tác động có mục đích đến tập thể người - thành viên của hệ - nhằm làm cho hệ vận hành thuận lợi và đạt tới mục đích dự kiến [trích theo 25; tr11]. Vậy, quản lý là sự tác động có định hướng, có mục đích, có kế hoạch và có hệ thống thông tin của chủ thể đến khách thể của nó nhằm đạt mục tiêu đề ra.