mở đầu cho trƣờng phái Đạo gia, cho rằng con ngƣời sinh ra từ “Đạo”. Do vậy, con ngƣời phải sống “vô vi”, theo lẽ tự nhiên, thuần phát, không hành động một cách giả tạo, gò ép, trái với tự nhiên. Quan niệm này biểu hiện tƣ tƣởng duy tâm chủ quan của triết học Đạo gia. Có thể nói rằng, với nhiều hệ thống triết học khác nhau, triết học phƣơng Đông biểu hiện tính da dạng và phong phú, thiên về vấn đề con ngƣời trong mối quan hệ chính trị, đạo đức.
Nhìn chung, con ngƣời trong triết học phƣơng Đông biểu hiện yếu tố duy tâm, có pha trộn tính chất duy vật chất phác ngây thơ trong mối quan hệ với tự nhiên và xã hội. Quan niệm về con người trong triết học phương Tây trước Mác Triết học phƣơng Tây trƣớc Mác biểu hiện nhiều quan niệm khác nhau về con ngƣời: Luan van 10 Các trƣờng phái triết học tôn giáo phƣơng Tây, đặc biệt là Kitô giáo, nhận thức vấn đề con ngƣời trên cơ sở thế giới quan duy tâm, thần bí. Theo Kitô giáo, cuộc sống con ngƣời do đấng tối cao an bài, sắp đặt. Con ngƣời về bản chất là kẻ có tội.
Con ngƣời gồm hai phần: thể xác và linh hồn. Thể xác sẽ mất đi nhƣng linh hồn thì tồn tại vĩnh cửu. Linh hồn là giá trị cao nhất trong con ngƣời. Vì vậy, phải thƣờng xuyên chăm sóc phần linh hồn để hƣớng đến Thiên đƣờng vĩnh cửu.
Trong triết học Hy Lạp cổ đại, con ngƣời đƣợc xem là điểm khởi đầu của tƣ duy triết học. Con ngƣời và thế giới xung quanh là tấm gƣơng phản chiếu lẫn nhau. Con ngƣời là một tiểu vũ trụ trong vũ trụ bao la. Prôtago một nhà ngụy biện cho rằng “con ngƣời là thƣớc đo của vũ trụ”.
Quan niệm của Arixtốt về con ngƣời, cho rằng chỉ có linh hồn, tƣ duy, trí nhớ, ý trí, năng khiếu nghệ thuật là làm cho con ngƣời nổi bật lên, con ngƣời là thang bậc cao nhất của vũ trụ. Khi đề cao nhà nƣớc, ông xem con ngƣời là “một động vật chính trị”. Nhƣ vậy, triết học Hy Lạp cổ đại bƣớc đầu đã có sự phân biệt con ngƣời với tự nhiên, nhƣng chỉ là hiểu biết bên ngoài về tồn tại con ngƣời. Triết học Tây Âu trung cổ xem con ngƣời là sản phẩm của Thƣợng đế sáng tạo ra.
Mọi số phận, niềm vui, nỗi buồn, sự may rủi của con ngƣời đều do Thƣợng đế xếp đặt. Trí tuệ con ngƣời thấp hơn lý chí anh minh sáng suốt của Thƣợng đế. Con ngƣời trở nên nhỏ bé trƣớc cuộc sống nhƣng đành bằng lòng với cuộc sống tạm bợ trên trần thế, vì hạnh phúc vĩnh cửu là ở thế giới bên kia. Triết học thời kỳ phục hƣng - cận đại đặc biệt đề cao vai trò trí tuệ, lý tính của con ngƣời, xem con ngƣời là một thực thể có trí tuệ.
Đó là một trong những yếu tố quan trọng nhằm giải thoát con ngƣời khỏi mọi gông cùm chật hẹp mà chủ nghĩa thần học thời trung cổ đã áp đặt cho con ngƣời. Tuy nhiên, Luan van 11 để nhận thức đầy đủ bản chất con ngƣời cả về mặt sinh học và về mặt xã hội thì chƣa có trƣờng phái nào đạt đƣợc. Con ngƣời mới chỉ đƣợc nhấn mạnh về mặt cá thể mà xem nhẹ mặt xã hội. Trong triết học cổ điển Đức, những nhà triết học nổi tiếng nhƣ Cantơ, Hêghen đã phát triển quan niệm về con ngƣời theo khuynh hƣớng chủ nghĩa duy tâm.
Hêghen, với cách nhìn của một nhà duy tâm khách quan, thông qua sự vận động của “ý niệm tuyệt đối”, đã cho rằng, con ngƣời là hiện thân của “ý niệm tuyệt đối”. Bƣớc diễu hành của “ý niệm tuyệt đối” thông qua quá trình tự ý thức của tƣ tƣởng con ngƣời đã đƣa con ngƣời trở về với giá trị tinh thần, giá trị bản thể và cao nhất trong đời sống con ngƣời. Hêghen cũng là ngƣời trình bày một cách có hệ thống về các quy luật của quá trình tƣ duy của con ngƣời, làm rõ cơ chế của đời sống tinh thần cá nhân trong mọi hoạt động của con ngƣời. Mặc dù con ngƣời đƣợc nhận thức từ góc độ duy tâm khách quan, nhƣng Hêghen là ngƣời khẳng định vai trò chủ thể của con ngƣời đối với lịch sử, đồng thời là kết qủa của sự phát triển lịch sử Tƣ tƣởng triết học của nhà duy vật Phoiơbắc đã vƣợt qua những hạn chế trong triết học Hêghen để hy vọng tìm đến bản chất con ngƣời một cách đích thực.
Phoiơbắc phê phán tính chất siêu tự nhiên, phi vật chất, phi thể xác về bản chất con ngƣời trong triết học Hêghen, đồng thời khẳng định con ngƣời do sự vận động của thế giới vật chất tạo nên. Con ngƣời là kết quả của sự phát triển của thế giới tự nhiên. Con ngƣời và tự nhiên là thống nhất, không thể tách rời. Phoiơbắc đề cao vai trò và trí tuệ của con ngƣời với tính cách là những cá thể ngƣời.
Đó là những con ngƣời cá biệt, đa dạng, phong phú, không ai giống ai. Quan điểm này dựa trên nền tảng duy vật, đề cao yếu tố tự nhiên, cảm tính, nhằm giải phóng cá nhân con ngƣời. Tuy nhiên, Phoiơbắc không thấy đƣợc bản chất xã hội trong đời sống con ngƣời, tách con Luan van 12 ngƣời khỏi những điều kiện lịch sử cụ thể. Con ngƣời của Phoiơbắc là phi lịch sử, phi giai cấp và trừu tƣợng.
Có thể khái quát rằng, các quan niệm về con ngƣời trong triết học trƣớc Mác, dù là đứng trên nền tảng thế giới quan duy tâm, nhị nguyên luận hoặc duy vật siêu hình, đều không phản ánh đúng bản chất con ngƣời. Nhìn chung, các quan niệm trên đều xem xét con ngƣời một cách trừu tƣợng, tuyệt đối hoá mặt tinh thần hoặc thể xác con ngƣời, tuyệt đối hoá mặt tự nhiên - sinh học mà không thấy mặt xã hội trong đời sống con ngƣời. Tuy vậy, một số trƣờng phái triết học vẫn đạt đƣợc một số thành tựu trong việc phân tích, quan sát con ngƣời, đề cao lý tính, xác lập các giá trị về nhân bản học để hƣớng con ngƣời tới tự do. Đó là những tiền đề có ý nghĩa cho việc hình thành tƣ tƣởng về con ngƣời của triết học mácxít.
Quan niệm triết học Mác – Lênin về bản chất con ngƣời a. Con người là một thực thể thống nhất giữa mặt sinh vật với mặt xã hội Triết học Mác đã kế thừa quan niệm về con ngƣời trong lịch sử triết học, đồng thời khẳng định con ngƣời hiện thực là sự thống nhất giữa yếu tố sinh học và yếu tố xã hội. Tiền đề vật chất đầu tiên quy sự tồn tại của con ngƣời là sản phẩm của thế giới tự nhiên. Con ngƣời tự nhiên là con ngƣời mang tất cả bản tính sinh học, tính loài.
Yếu tố sinh học trong con ngƣời là điều kiện đầu tiên quy định sự tồn tại của con ngƣời. Vì vậy, giới tự nhiên là “thân thể vô cơ của con ngƣời”. Con ngƣời là một bộ phận của tự nhiên. Là động vật cao cấp nhất, tinh hoa của muôn loài, con ngƣời là sản phẩm của quá trình phát triển hết sức lâu dài của thế giới tự nhiên.
Con ngƣời phải tìm kiếm mọi điều kiện cần thiết cho sự tồn tại trong đời sống tự nhhiên nhƣ thức ăn, nƣớc uống, hang động để ở. Đó là quá trình con ngƣời đấu tranh với tự nhiên, với thú dữ để sinh tồn. Trải qua hàng chục vạn năm, con ngƣời Luan van 13 đã thay đổi từ vƣợn thành ngƣời, điều đó đã chứng minh trong các công trình nghiên cứu của Đácuyn. Các giai đoạn mang tính sinh học mà con ngƣời trải qua từ sinh thành, phát triển đến mất đi quy định bản tính sinh học trong đời sống con ngƣời.
Nhƣ vậy, con ngƣời trƣớc hết là một tồn tại sinh vật, biểu hiện trong những cá nhân con ngƣời sống, là tổ chức cơ thể của con ngƣời và mối quan hệ của nó đối với tự nhiên. Những thuộc tính, những đặc điểm sinh học, quá trình tâm - sinh lý, các giai đoạn phát triển khác nhau nói lên bản chất sinh học của cá nhân con ngƣời. Tuy nhiên, điều cần khẳng định rằng, mặt tự nhiên không phải là yếu tố duy nhất quy định bản chất con ngƣời. Đặc trƣng quy định sự khác biệt giữa con ngƣời với thế giới loài vật là mặt xã hội.
Trong lịch sử đã có những quan niệm khác nhau phân biệt con ngƣời với loài vật, nhƣ con ngƣời là động vật sử dụng công cụ lao động. Là “một động vật có tính xã hội”, hoặc con ngƣời động vật có tƣ duy. Những quan niệm nêu trên đều phiến diện chỉ vì nhấn mạnh một khía cạnh nào đó trong bản chất xã hội của con ngƣời mà chƣa nêu lên đƣợc nguồn gốc của bản chất xã hội ấy. Với phƣơng pháp biện chứng duy vật, triết học Mác nhận thức vấn đề con ngƣời một cách toàn diện, cụ thể, trong toàn bộ tính hiện thực xã hội của nó, mà trƣớc hết là vấn đề lao động sản xuất ra của cải vật chất.Ăngghen đã nêu lên vai trò lao động sản xuất của con ngƣời: “Có thể phân biệt con ngƣời với súc vật bằng ý thức, bằng tôn giáo, nói chung bằng bất cứ cái gì cũng đƣợc.
Bản thân con ngƣời bắt đầu bằng sự tự phân biệt với súc vật ngay khi con ngƣời bắt đầu sản xuất ra những tƣ liệu sinh hoạt của mình - đó là một bƣớc tiến do tổ chức cơ thể của con ngƣời quy định. Sản xuất ra những tƣ liệu sinh hoạt của mình, nhƣ thế con ngƣời đã gián tiếp sản xuất ra chính đời sống vật chất của mình”. Luan van 14 Thông qua hoạt động sản xuất vật chất, con ngƣời đã làm thay đổi, cải biến toàn bộ giới tự nhiên : “Con vật chỉ tái sản xuất ra bản thân nó, còn con ngƣời thì tái sản suất ra toàn bộ giới tự nhiên”. Tính xã hội của con ngƣời biểu hiện trong hoạt động sản xuất vật chất.
Thông qua hoạt động lao động sản xuất, con ngƣời sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần, phục vụ đời sống của mình; hình thành và phát triển ngôn ngữ tƣ duy; xác lập quan hệ xã hội. Bởi vậy, lao động là yếu tố quyết định hình thành bản chất xã hội của con ngƣời, đồng thời hình thành nhân cách cá nhân trong cộng đồng xã hội. Là sản phẩm của tự nhiên và xã hội nên quá trình hình thành và phát triển của con ngƣời luôn bị quy định bởi ba hệ thống quy luật khác nhau nhƣng thống nhất với nhau. Hệ thống các quy luật tự nhiên nhƣ quy luật về sự phù hợp cơ thể với môi trƣờng, quy luật về sự trao đổi chất, về di truyền, biến dị, tiến hoá.