CHƯƠNG 1. CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ DẠY HỌC XÁC SUẤT THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TƯ DUY VÀ LẬP LUẬN TOÁN HỌC CHO HỌC SINH LỚP 11 1. Tóm tắt những công bố khoa học về Tư duy và Lập luận toán học 1. Tư duy a) Khái niệm về tư duy - Trong cuộc sống hằng ngày, có nhiều hiện tượng, sự vật mà chúng ta chưa hiểu hết, chưa biết hết.
Để làm chủ được thực tiễn con người chúng ta phải từng bước hiểu sâu sắc những cái chưa biết đó, định hình hình ra cái bản chất, liên hệ có tính quy luật, mối quan hệ của chúng quá trình đó gọi là tư duy. - Tư duy là trình độ cao về quá trình nhận thức, là sự phản ánh khái quát hóa không thể tách rời trừu tượng hóa, tích cực sáng tạo về thế giới. Không có quy trình khái quát hóa thì không bao giờ có quy trình hình thành khái niệm và cũng không thể xây dựng các tình tiết, lý thuyết khoa học; nói chung là không có hoạt động nhận thức sang tạo nào. - Giai đoạn quá trình tư duy bao gồm, từ lúc cá nhân gặp những tình huống có vấn đề và rồi nhận thức ra vấn đề, đến khi cá nhân giải quyết được vấn đề.
Đấy là cá giai đoạn: xác định vấn đề, các liên tưởng xuất hiện, sàng lọc các liên tưởng rồi hình thành giả thuyết, kiểm tra giải thuyết, tư duy giải quyết nhiệm vụ. - Tư duy của con người luôn có tính sáng tạo, tư duy con người luôn mang đậm bản chất xã hội- lịch sử, có khả năng nhận thức về chất so với cảm giác và tri giác. Tư duy là một sản phẩm cao cấp có tổ chức cao của bộ não con người, tư duy duy bao giờ cũng có mối liên hệ chặt chẽ các hiện thực khách quan thực tế. Tư duy ở đây không phải là sự ghi nhớ hay nhớ một cách có máy móc mặc duy nó giúp cho ta ghi nhớ hoàn thiện hơn.
Ở đây, tư duy cũng không 12 phải là hoạt động ra lệnh điều khiển cho cơ thể mà tư duy chỉ giúp cho ta định hướng hành vi hay hướng điều khiển. Tư duy là một chuỗi các hoạt động của hệ thần kinh tác động lên cơ thể xử lý những hành động một cách có tổ chức. Tư duy cũng không phải là giấc mơ mặc dù khi ngủ ta mơ có những điểm giống xuất trong một số giấc mơ. Tư duy ở trong hệ thần kinh, không có ở ngoài hệ thần kinh.
Tư duy là các liên kết phần tử được não bộ ghi nhớ có chọn lọc và kích thích qua các hoạt động nhận thức thông qua thế giới xung quanh, định hướng sao cho phù hợp với môi trường sống và là hình thức hoạt động hệ thần kinh. Tư duy những hoạt động, vận động của chất nên tư duy là cái gì đó vô hình của các phần tử thần kinh không phải là vật chất.Tư duy không phải do quá trình vận động vật chất mà ra. Tư duy có vai trò quan trọng về mức độ nhận thức mới về chất so với tri giác và cảm giác. Khác với cảm giác thì tri giác tư duy tìm hiểu, phản ánh những yếu tố bên trong bản chất những mối liên hệ, quan hệ có tính quy luật của sự vật hiện tượng.
Quá trình này mamg tính gián tiếp và kích thích nảy sinh trên cơ sở hoạt động thực tiễn nhận thức cảm tính nhưng lại vượt xa của nhận thức cảm tính. - Tư duy đóng một vai trò cực kì quan trọng đối với hoạt động nhận thức của con người và hoạt động thực tiễn. Tầm quan trọng tư duy ở đây là giúp con người nhận thức được quy luật khách quan từ đó có thể đưa ra những cách giải quyết một cách khoa học của sự vật, hiện tượng và có kế hoạch, cách giải quyết, cải tạo hiện thực khách quan. Bên cạnh đó, không chỉ giúp cho con người trong việc giải quyết vấn đề thực tiễn cuộc sống mà tư duy còn con người nhận thức, lĩnh hội được nền văn hóa xã hội để hình thành phát triển nhân cách của bản thân để đóng góp nho nhỏ vào sự hiểu hiểu biết bản thân nói riêng và kho tang văn hóa xã hội của loài người nói chung.
Trong tâm lý học, một số những nghiên cứu nổi tiếng tương đối đầy đủ nhất về tư duy đã được thế giới công nhận và trình bày trong các công trình của X. Theo Rubistein : “Tư duy- Là sự khôi phục trong ý nghĩ của chủ thể về khách thể với một giới hạn đầy đủ hơn, toàn diện hơn so với các tư 13 liệu cảm tính do chủ thể xuất hiện tác động lên khách thể ” (dẫn theo Đavudov V. Trích từ điển Triết học của (M.Ro-den-tan và P.I-u-din, trang 873 ): “Tư duy là sản vật cao cấp của một vật chất hữu cơ đặc biệt, hay còn gọi là óc, qua nhiều quá trình hoạt động của sự phản ánh hiện thực khách quan bằng biểu tượng, khái niệm, đặc điểm, suy luận, phân tích …” Tư duy là trình độ cao và phức tạp của hệ thần kinh thông qua phản ánh, trong đó sản phẩm tinh thần là kết quả gián tiếp bằng nhiều phương thức trừu tượng hóa , khái quát hóa trong phân tích và tổng hợp quá trình diễn ra… Đó là giai đoạn vận dụng khái niệm theo một quy luật logic (biện chứng và hình thức), và cả trực giác để đạt được chân lý qua nhiều hoạt động. Đó là cả một quá trình không ngừng nỗ lực, tìm tòi, học hỏi, bổ sung, “cải tạo” thế giới hiện thực của tư duy trong óc người , dựa vào những kết quả có được để làm cơ sở giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra.
Sức mạnh của tư duy và nhờ hoạt động qua thực tiễn mà con người đạt được những tầm cao mới , tiến xa hơn loài vật. Theo Ăngghen, con vật và con người có điểm giống nhau là đều có lý trí (phức hoạt động của lý trí như : quy nạp, diễn dịch … ). Sự khác biệt giữa con người và con vật là “trình độ” nhưng không đơn thuần là vậy mà là những trình độ khác nhau về chất. Chính vì vậy, “tư duy có được qua sự nghiên cứu bản chất của ngay những khái niệm làm tiền đề - chỉ có thể lĩnh hội được khi con người đã ở một trình độ, thời điểm phát triển tương đối cao” …, Tư duy bao gồm cả lý tính và lý trí.
Lý tính là bản tính tinh thần của tư duy, dựa vào hệ thần kinh ở trung ương não người, có chức năng điều khiển khả năng suy nghĩ của con người và cái lý tính ấy chỉ có ở con người. Còn lý trí là “chất kỳ diệu” của tư duy, mà trong đó nó rọi soi ánh sang vào sự vật , nắm bắt quy trình , xâm nhập được bí mật, hệ thống sự vật. Trong nhận thức cảm tính, các thông tin và hình ảnh ghi lại được là nhờ sức mạnh cảm giác của giác quan 14 sinh học. Do đó nói tới nhận thức con người tức là chủ yếu nói tới lý tính nghĩa là đang nói tới tư duy.
Như đã trình bày, có nhiều nhà khoa học đã đưa ra khái niệm tư duy, chúng có những điểm tương đồng và đôi chỗ có sự khác biệt. Trong luận văn này, chúng tôi đồng tình và xin được sử dụng khái niệm: “Tư duy là một quá trình nhận thức phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối liên hệ và quan hệ bên trong, có tính quy luật của sự vật và hiện tượng trong hiện thực khách quan mà trước đó ta chưa biết” [Phạm Minh Hạc (chủ biên) - Nguyễn Kế Hào - Nguyễn Quang Uẩn, (1993), Tâm lý học, NXB Giáo dục, Hà Nội]. b) Phân loại tư duy Có thể nói tư duy và năng lực tư duy là một thế giới đa dạng, phong phú rộng lớn. Tư duy của con người trong thực tiễn cuộc sống xã hội hội còn tùy theo lĩnh vực , từng phương tiện , cấp độ ,… của đời sống mà có những loại hình, mức độ , cấp độ khác nhau.
Có nhiều cách phân loại tư duy. Chẳng hạn: 1) Phân loại theo loại hình; có tư duy kinh tế, tư duy chính trị, tư duy văn hóa,. 2) Phân loại theo hình thức thể hiện; có tư duy lý luận, tư duy kinh nghiệm, tư duy thực hành, tư duy hình ảnh cụ thể,. 3) Phân loại theo phương pháp; có tư duy biện chứng, tư duy logic,… 4) Phân loại theo hình thức biểu hiện của vấn đề và phương thức giải quyết vấn đề; có ba loại tư duy: Tư duy thực hành, tư duy hình ảnh cụ thể, tư duy lý luận.
5) Phân loại theo mức độ sáng tạo; có: Tư duy angôrít, tư duy ơrítxtíc. 6) Phân loại theo mức độ trừu tượng; có: Tư duy trực quan, hành động, là cấp độ tư duy bằng các thao tác cụ thể tay chân hướng vào việc giải quyết một số tình huống cụ thể trực quan. Tư duy trực quan hình tượng, là loại tư duy phát triển ở mức độ cao hơn, tuy ra đời muộn hơn so với tư duy trực quan hành động nhưng lại chỉ có ở người, đó là loại tư duy mà việc giải quyết vấn đề dựa vào các hình ảnh của sự vật, hiện tượng. Tư duy trừu tượng (tư duy ngôn ngữ logic), là tư 15 duy phát triển ở cấp độ cao nhất, chỉ có ở người, đó là loại hình tư duy mà việc giải quyết vấn đề dựa trên khái niệm, phạm trù và các mối quan hệ logic và gắn bó với ngôn ngữ, lấy ngôn ngữ là phương tiện của tư duy.
7) Phân loại theo đặc điểm của đối tượng của tư duy; có thể chia tư duy làm hai loại: Tư duy trừu tượng, tư duy cụ thể. Piaget thường nói đến 2 loại tư duy: Tư duy cụ thể, tư duy hình thức. 9) Nguyễn Cảnh Toàn, Nguyễn Văn Lê, Châu An cho rằng: Xét về mức độ độc lập có thể chia tư duy ra thành bốn bậc: Tư duy lệ thuộc, tư duy độc lập, tư duy phê phán, tư duy sáng tạo. Itenxơn, có 4 loại tư duy đó là : Tư duy hình tượng - tư duy thực hành - tư duy khoa học - tư duy logic.
Đối với tư duy logic được hiểu là: “Tư duy thay thế các hành động với các sự vật có thực bằng sự vận dụng các khái niệm theo quy tắc logic học”. 11) Các thuật ngữ tư duy lý luận, tư duy kinh nghiệm cũng được V. Đavưđov sử dụng trong cuốn Các dạng khái quát hóa trong dạy học. Cruchetxki đã nói đến: Tư duy tích cực, tư duy độc lập, tư duy sáng tạo, tư duy lý luận.