chương 1 Bối cảnh lịch sử - xã hội Việt Nam vào những năm cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX đã có nhiều biến đổi dữ dội trên mọi lĩnh vực từ kinh tế, e 16 văn hóa, xã hội, chính trị, giáo dục… tác động mạnh mẽ đến đời sống vật chất cũng như tinh thần của con người Việt Nam nói chung và tỉnh Nam Định nói riêng. Sinh ra và lớn lên trong một xã hội như vậy, cả cuộc đời Tú Xương gắn liền với con đường khoa cử không mấy suôn sẻ, không bỏ một khoa thi nhưng chỉ nắm trên tay tấm bằng Tú tài “dở dở dang dang”. Những thất bại trên con đường công danh cùng với sự chứng kiến tận mắt mọi thứ đang ồ ạt biến đổi trên mảnh đất mình đang sống…, tất cả đã thúc đẩy Tú Xương chắp bút viết lên những thi phẩm để đời, tạo nên một Tú Xương đầy cá tính. Bất kỳ một giai đoạn văn học nào cũng lấy con người làm đối tượng phản ánh, con người được xem là đối tượng trung tâm để thay nhà văn nói lên tư tưởng, tình cảm trong tác phẩm.
Ở những giai đoạn đầu của văn học trung đại, hình tượng con người trong văn chương bị chi phối chặt chẽ bởi những quy phạm của lễ giáo phong kiến, con người như là một bộ phận của thiên nhiên. Bằng cảm quan của con người thị dân, nói như tác giả Đoàn Hồng Nguyên: “Tú Xương đã bước một bước dài ra khỏi sự cách điệu và điển phạm trong sự thể hiện cảm hứng về con người mang đậm tính chất lý tưởng tạo nên một hệ thống cảm hứng mới về con người và thế giới” [25, tr. Con người trong thơ của Tú Xương là con người của thực tại. Không khí của thời đại, không khí của buổi giao thời, sự xuất hiện lối sống mới, ngôn ngữ mới, kinh tế mới, con người mới… đã tạo nên hình tượng con người thị dân trong sáng tác của Tú Xương.
Điều này làm cho nền văn học trung đại Việt Nam giai đoạn cuối xuất hiện thêm một kiểu tác giả nhà nho, đó chính là kiểu tác giả nhà nho thị dân. e 17 Chương 2 KIỂU TÁC GIẢ NHÀ NHO THỊ DÂN TÚ XƯƠNG – NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN HÌNH TƯỢNG NGHỆ THUẬT 2. Hình tượng không gian thị thành trong sáng tác của Tú Xương Theo Từ điển thuật ngữ văn học: “Không gian nghệ thuật là hình thức bên trong của hình tượng nghệ thuật thể hiện tính chỉnh thể của nó” [10, tr. Theo Trần Đình Sử: “Không gian nghệ thuật là hình thức tồn tại của thế giới nghệ thuật”, “không có hình tượng nghệ thuật nào không có không gian, không có một nhân vật nào không có một nền cảnh nào đó”, và “không gian nghệ thuật là sản phẩm sáng tạo của người nghệ sỹ nhằm biểu hiện con người và thể hiện một quan niệm nhất định về cuộc sống” [41, tr.
Với con người trung đại, không gian có một giá trị riêng biệt. Sống lệ thuộc, gắn bó mật thiết với thiên nhiên, thời trung đại lấy thiên nhiên làm thước đo chuẩn mực cho con người: như tùng, cúc, trúc, mai chỉ cho người quân tử; liễu, đào chỉ cho người thục nữ. Không gian nghệ thuật đặc trưng trong văn học trung đại trước hết là không gian vũ trụ (Thuật hoài – Phạm Ngũ Lão, Cảm hoài – Đặng Dung). Đó còn là không gian nhàn tản, thoát tục (Côn sơn ca – Nguyễn Trãi, Nhàn – Nguyễn Bỉnh Khiêm); là không gian hoang dại, tiêu điều (trong thơ Nguyễn Gia Thiều); không gian lưu lạc (trong thơ Nguyễn Du) và không gian trần tục hóa, thế tục hóa (trong thơ Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến).
Thoát ra khỏi quy phạm cảm thức về không gian nghệ thuật của thơ ca trung đại, sáng tác của Tú Xương không có cái không gian vũ trụ vĩ mô cũng không có cái không gian tạo vật vi mô mà chỉ có cái không gian sinh hoạt thực tại: là phố xá, cao lầu, nơi buôn bán, sinh hoạt. Cụ thể hơn: “Trong thơ Tú Xương chỉ rặt có cảnh Nam Định, sự Nam Định, lời Nam Định, người Nam Định… Toàn là thực tiễn Nam Định…chỉ thấy toàn một màu Nam Định” [30, tr.13–14], nói cách khác, nổi bật trong sáng tác của nhà nho Tú Xương là e 18 không gian thị thành. Không gian phố phường Tú Xương sống vào giai đoạn giao thời, đổ vỡ của đất nước ta: xã hội phong kiến già nua đang chuyển thành xã hội lai căng thực dân nửa phong kiến. Thành phố Nam Định quê ông lại là nơi diễn ra cuộc sống ấy sớm và khá tập trung.
Hằng ngày, nhiều cảnh chướng tai gai mắt đập vào mắt ông và được ông phản ánh trong mảng thơ tố cáo hiện thực xã hội đương thời. Thơ Tú Xương phê phán một cách chân thực, sâu sắc đối với hiện thực đáng buồn của buổi giao thời ở thành thị, cụ thể là thành phố Nam Định – nơi thể hiện rõ nhất sự ảnh hưởng của những chính sách cai trị do thực dân Pháp thực hiện. Không gian cảnh phố trong thơ Tú Xương không có cái bao la, bát ngát theo tầm cao của không gian vũ trụ như thơ ca trung đại, không gian ấy được mở ra theo chiều rộng và chiều sâu, không gian ấy bao quát toàn bộ cảnh trí phố phường và cảnh sinh hoạt nơi phố phường. Thơ Tú Xương không có cái không gian vũ trụ vi mô hay vĩ mô mà chỉ có cái không gian sinh hoạt thực tại ở Thành Nam.
Thơ Tú Xương không có những bài vịnh về phong, hoa, tuyết, nguyệt mà chỉ có cảnh sông Lấp, cảnh “sông nên bãi”, “phố nửa làng” trong Vị Hoàng hoài cổ và chỉ có toàn cảnh “phố”: phố Hàng Nâu, phố Hàng Song, phố Hàng Sắt, phố Hàng Thao, phố Giấy và “phố phường tiếp giáp với bờ sông” trong Đất Vị Hoàng, cùng với đó là cảnh sinh hoạt của phố phường. Cụ thể, ở Vị Hoàng hoài cổ: Nô nức qua chơi thú Vị Hoàng, Này nơi phong vận, đất nhiều quan. Trời kia xui khiến sông nên bãi, Ai khéo xoay ra phố nửa làng. Khua múa trống chiêng chùa vẫn nức, Xì xèo tôm tép chợ hầu tan.
Việc làng quan lớn đi đâu cả? e 19 Chỉ thấy dăm ba bác xã bàn. Vị Hoàng là tên của một con sông đào chảy qua đất Vị Hoàng của tỉnh Nam Định, ngày nay không còn nữa, đã bị lấp lại nên nay có tên là sông Lấp, địa danh này cũng xuất hiện ít nhiều qua sáng tác của Tú Xương. Bờ sông Vị Hoàng ngày xưa đông đúc, sau phù sa bồi đắp thành bãi, thành đồng, rồi thành phố xá, “nơi phong vận, đất nhiều quan” ở đây là xã Vị Xuyên – là nơi có phong tục tốt từ xưa, có nhiều vị đỗ đạt khoa cử. Đó là Vị Hoàng, Vị Xuyên của thuở xưa, những điều này làm cho nhà thơ không thể tránh khỏi sự chạnh lòng trước thực tại.
Quang cảnh đông đúc, yên vui, những con người đỗ đạt chân chính không còn nữa, mà thay vào đó là sự tiêu điều: “sông nên bãi”, “phố nửa làng”… Những người đứng đầu trong xã hội không còn mặn mà với chế độ, nhân dân thì chán nản, điêu đứng trước cuộc sống ấy. Quá khứ - hiện tại bấy giờ đối lập, Tú Xương hoài cổ về quê hương của mình trong sự tiếc nuối và xót xa. Nhà thơ luôn mang một nỗi niềm thế sự trước cảnh vật. Trước không gian phố phường, Tú Xương cũng mang đầy nỗi niềm trăn trở: Có đất nào như đất ấy không Phố phường tiếp giáp với bờ sông Nhà kia lỗi phép con khinh bố Mụ nọ chanh chua vợ chửi chồng.
Ấy là những câu thơ trong bài thơ Đất Vị Hoàng – một bài thơ đặc sắc trong sáng tác của Tú Xương. Một xã hội lố lăng, đạo đức bị băng hoại, đồng tiền lên ngôi, đảo lộn mọi trật tự, đạo cha – con, nghĩa vợ chồng không còn đạo mạo, tôn nghiêm như trước, con thì khinh bố, vợ thì chửi chồng,… Nền đạo đức chuẩn mực dường như không còn nữa, tất cả góp phần tạo nên một xã hội lố lăng, đáng cười. Trong bài Phố Hàng Song, tác giả viết: Chồng chung vợ chạ, kìa cô Bố/ Đậu lạy, quan xin, nọ chú Hàn… Hàng Song – một con phố lớn, nối liền với phố Hàng Nâu lại xảy ra nhiều việc đáng chê cười, có cả những con người đi xin, đi lạy để được đỗ đạt và có chức tước, những điều e 20 tưởng như không thể lại xảy ra ngay trên nơi Tú Xương sống. Và chỉ qua bốn câu thơ lục bát ở bài thơ Sông lấp, tác giả còn cho người đọc thấy được sự thay đổi của con sông quê hương ông cùng với nỗi niềm xót xa trước sự thay đổi ấy: Sông kia rày đã nên đồng Chỗ làm nhà cửa, chỗ trồng ngô khoai Vẳng nghe tiếng ếch bên tai Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò.
Nhan đề bài thơ: Sông lấp, nghĩa là sông Vị Hoàng bị lấp, một con sông xưa nổi tiếng phồn thịnh, trên bến dưới thuyền tấp nập mà giờ đây thực dân Pháp ra lệnh lấp lại thành đồng để làm nhà cửa, trồng ngô, khoai. Đứng trước thực tế ấy, không ai không đau lòng khi quê hương mình đang dần rơi vào tay bọn xâm lược. Không gian phố phường trong thơ Tú Xương còn được khắc họa qua sự phô trương rởm đời của bọn hãnh tiến học làm sang trong cảnh chúc Tết: Khăn là bác nọ to tầy rế Váy lĩnh cô kia quét sạch hè Công đức tu hành sư có lọng Xu hào rủng rỉnh Mán ngồi xe. (Năm mới) Rồi những âm thanh sôi động, láo nháo khắp ngõ phố: Đì đẹt ngoài sân tràng pháo chuột Om sòm trên vách bức tranh gà Chí cha chí chát khua giầy dép Đen thủi đen thui cũng lượt là.
(Ngày xuân ngẫu hứng) Tác giả đã đi sâu vào lối sống mới của mỗi gia đình, mỗi con phố, để từ đó nhận ra mảnh đất Vị Hoàng địa linh nhân kiệt ngày xưa nay còn đâu nữa, những cảnh vật quen thuộc, những thói quen, lề xưa, nếp cũ đã bị đảo lộn. e 21 Như vậy, bằng tài năng của mình, Tú Xương đã hí họa cái không gian phố phường ấy thật cụ thể và đậm nét, với hàng loạt bài viết về cảnh phố, cảnh sinh hoạt của phố, hay cụ thể hơn là cảnh sinh hoạt của người dân thành Nam. Tú Xương xứng đáng là nhà thơ của cảnh phố, nhà thơ đô thị đầu tiên trong lịch sử văn chương Việt Nam phá vỡ hệ thống thơ đề vịnh cảnh thiên nhiên trong thơ ca trung đại trước đó. Gurêvich:“Sự phát triển của dân cư thành thị với một phong cách tư duy mới biến đổi, duy lý hơn bắt đầu làm biến đổi cách cảm thụ thiên nhiên truyền thống này” [9, tr.