Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển Đội ngũ cán bộ khoa học phục vụ đào tạo sau đại học. Chương 2: Thực trạng công tác phát triển Đội ngũ cán bộ khoa học tham gia đào tạo ở Học viện KHCN. Chương 3: Biện pháp phát triển Đội ngũ cán bộ khoa học tham gia đào tạo ở Học viện KHCN. 7 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ KHOA HỌC THAM GIA ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC 1.
Tổng quan nghiên cứu 1. Đối với phát triển nguồn nhân lực Tại Đại hội IX và XI của Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định “. nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững”, “Con người và nguồn nhân lực là nhân tố quyết định sự phát triển đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đặc biệt là công cuộc đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục Việt Nam theo Nghị quyết số 29- NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam.
Việc nâng cao hiệu quả công tác quản trị nguồn nhân lực nhằm phát triển nguồn nhân lực đáp ứng các yêu cầu phát triển xã hội là một nhiệm vụ mang tính cấp bách và chiến lược. Trên thế giới hiện nay có rất nhiều các công trình đã nghiên cứu về các vấn đề phát triển nhân lực như các tác phẩm: “The small bussiness of developing people” của tác giả Annette Kerr and Marilyn Mcdougall, hay như cuốn sách “The emergence of strategic human resource development” của các tác giả: Garavan, Thomas N, Costine, Pat, Heraty, Noreen (1995) tập trung vào sự xuất hiện của khái niệm phát triển nguồn nhân lực, trong đó xem xét các vấn đề về phát triển nguồn nhân lực theo các cách tiếp cận khác nhau như thông qua chiến lược đào tạo… Tại Việt Nam hiện nay đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu, đề tài, dự án các cấp, các ngành nghiên cứu về lĩnh vực phát triển nguồn nhân lực như đề tài cấp Bộ (2012): “Phát triển đội ngũ lãnh đạo và quản lý nhà nước về 8 giáo dục các cấp” của PGS. Trần Ngọc Giao. Học viện Khoa học xã hội đang triển khai thực hiện dự án Phát triển đội ngũ giảng viên tại Học viện Khoa học xã hội giai đoạn 2015-2030.
Ngoài ra còn rất nhiều các bài báo, các công trình khoa học khác như cuốn sách “Đào tạo nguồn nhân lực phục vụ hội nhập quốc tế” của các tác giả Bành Tiến Long, Dương Văn Quảng, Trịnh Đức Dụ (Nhà xuất bản Thế giới, 2009). Bài báo “Giáo dục với phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa” của Nguyễn Thị Hồng Vân, Tạp chí Phát triển giáo dục, số 4. Sách “Quản lý nguồn nhân lực trong giáo dục” của TS. Phạm Văn Thuần, Trường Đại học giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội.
Đường Vĩnh Sường với bài báo “Giáo dục, đào tạo với phát triển nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa” (Tạp chí Cộng sản, 2012). Bài báo “Giáo dục đại học: Sẽ phải chuyển hướng sang đẩy mạnh nghiên cứu khoa học” của tác giả Lệ Thu đăng trên báo Dân trí (2017). Bài báo “Đào tạo, bồi dưỡng nhân lực KH&CN: đổi mới từ cách làm” của TS. Trần Đắc Hiển trên tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
Đối với phát triển đội ngũ giảng viên Dự án quốc gia nghiên cứu tổng thể về giáo dục và đào tạo và phân tích nguồn nhân lực, mã số VIE/89/022 (Dự án tổng thể về giáo dục). Công trình “Nghiên cứu việc bồi dưỡng cán bộ giảng dạy đại học và giáo viên dạy nghề” của nhóm tác giả do Phạm Thành Nghị làm chủ nhiệm. Báo cáo Sự phát triển của Hệ thống Giáo dục Đại học, Các giải pháp đảm bảo và nâng cao chất lượng đào tạo ngày 29/10/2009. Văn phòng Quốc hội và Ủy ban Văn hóa - giáo dục - thanh niên - thiếu niên và nhi đồng của Quốc hội: Hội thảo khoa học “Những vấn đề đặt ra đối với giáo dục đại học ở Việt Nam” (Thông tin của Báo Tuổi trẻ, ngày 23/12/2009).
Năm 2010, nhóm cán bộ, chuyên viên Vụ Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng do ThS. Lê Thị Phương Nam, Phó Vụ 9 trưởng làm Chủ nhiệm đã thực hiện đề tài “Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên đại học giai đoạn 2010-2015”. Đề tài đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận trong việc đánh giá chung về thực trạng đội ngũ giảng viên đại học (GVĐH) hiện nay, trên cơ sở đó đưa ra một số đề xuất nhằm xây dựng và phát triển đội ngũ GVĐH giai đoạn 2010-2015 và kiến nghị một số nội dung chuẩn bị cho việc xây dựng Dự án Luật giáo dục đại học. Trong “Nghiên cứu khoa học của giảng viên - Yếu tố quan trọng góp phần nâng cao chất lượng đào tạo tại các trường đại học trong giai đoạn hiện nay” của Trần Mai Ước (2013) nhấn mạnh đến giảng dạy và nghiên cứu khoa học (NCKH) là hai nhiệm vụ vừa quan trọng - bắt buộc - cần thiết của bất kỳ GVĐH nào.
Cả hai nhiệm vụ này có quan hệ hữu cơ với nhau, bổ trợ lẫn nhau. Trong đó bài viết đề cao đến nhiệm vụ NCKH của GVĐH có ảnh hưởng lớn đến chất lượng, uy tín đào tạo của đại học. Qua đó, bài viết chỉ ra 8 lợi ích thiết thực của NCKH đối với giảng viên, điển hình như NCKH giúp giảng viên đào sâu, cập nhật, trau dồi tri thức; phát triển tư duy, năng lực sáng tạo của giảng viên; gắn kết giữa lý luận và thực tiễn, lý thuyết và thực hành. Ngoài ra cũng còn có khá nhiều các công trình, luận văn, luận án đề cập đến việc phát triển đội ngũ giảng viên.
Các nội dung được đề cập đến trong các nghiên cứu đã nêu gồm nhiều góc độ khác nhau về phát triển nguồn nhân lực KHCN và nguồn nhân lực giảng viên. Tuy nhiên chưa có nghiên cứu nào đề cập cụ thể, chuyên sâu về việc phát triển đội ngũ nghiên cứu khoa học tham gia đào tạo sau đại học nói chung và phát triển đội ngũ nghiên cứu khoa học tham gia đào tạo tại Học viện KHCN nói riêng. Vì vậy việc nghiên cứu đề tài “Phát triển đội ngũ cán bộ nghiên cứu khoa học tham gia đào tạo sau đại học ở Học viện Khoa học và Công nghệ, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam” là rất cần thiết để đáp ứng yêu cầu thực tiễn về phát triển đội ngũ giảng viên tại Học viện Khoa học và Công nghệ. Các khái niệm cơ bản 1.
Khái niệm về đội ngũ cán bộ nghiên cứu khoa học a. Đội ngũ cán bộ: Khái niệm đội ngũ ngày nay được sử dụng rộng rãi trong cả nói và viết: đội ngũ cán bộ, đội ngũ giáo viên, đội ngũ nhân viên, đội ngũ sinh viên. Theo Đại từ điển Tiếng Việt (NXB Văn hóa thông tin) thì: “Đội ngũ là một khối đông người cùng chức năng nghề nghiệp, được tập hợp và tổ chức thành một lực lượng”. Theo Từ điển Tiếng Việt (NXB Đà Nẵng - Viện Ngôn ngữ học): “Đội ngũ là một tập hợp gồm một số đông người cùng có chức năng nhiệm vụ hoặc nghề nghiệp hợp thành lực lượng hoạt động trong một hệ thống nhất định”.
Tác giả Đặng Quốc Bảo nhận định “Đội ngũ là một tập thể người gắn kết với nhau cùng chung lý tưởng, mục đích, rang buộc nhau về vật chất, tinh thần và hoạt động theo một nguyên tắc”. Có thể nói “Đội ngũ” là một nhóm người, được tổ chức và tập hợp thành lực lượng, có cùng chức năng nghề nghiệp, có cùng chung mục đích và hướng tới một mục đích đó. Các khái niệm về đội ngũ tuy có khác nhau đôi chút nhưng đều giống nhau, đều thống nhất với nhau ở chỗ, đội ngũ là một nhóm người được tập hợp thành một lực lượng để cùng thực hiện một hay nhiều chức năng; họ có thể cùng hoặc không cùng nghề nghiệp nhưng đều có chung lý tưởng, cùng chung mục đích và gắn bó với nhau về quyền lợi vật chất và tinh thần. Nghiên cứu khoa học: Khoa học được hiểu một cách đơn giản đó là hệ thống tri thức về tự nhiên, xã hội và tư duy về những quy luật phát triển khách quan của tự nhiên, 11 xã hội và tư duy.
Nó giải thích một cách đúng đắn nguồn gốc của những sự kiện đó, phát hiện ra những mối liên hệ của các hiện tượng, sự kiện nhằm vũ trang cho con người những tri thức về quy luật khách quan của thế giới hiện thực để con người áp dụng vào thực tiễn sản xuất và đời sống. Theo Vũ Cao Đàm: “NCKH nói chung là nhằm thỏa mãn về nhu cầu nhận thức và cải tạo thế giới đó là khám phá những thuộc tính bản chất của sự vật, hiện tượng; phát hiện quy luật vận động của sự vật, hiện tượng; vận dụng quy luật để sáng tạo giải pháp tác động lên sự vật hiện tượng”. Theo Nguyễn Văn Lê: “NCKH là sự tìm tòi, khám phá bản chất các sự vật nhằm thỏa mãn nhu cầu nhận thức, đồng thời sáng tạo ra các giải pháp tác động trở lại sự vật, biến đổi sự vật theo mục đích sử dụng”. Nói một cách khái quát nhất thì NCKH là một hoạt động tìm kiếm, xem xét, điều tra, hoặc thử nghiệm.
Dựa trên những số liệu, tài liệu, kiến thức… đạt được từ các thí nghiệm NCKH để phát hiện ra những cái mới về bản chất sự vật, về thế giới tự nhiên, xã hội và để sáng tạo phương pháp, phương tiện kỹ thuật mới cao hơn, giá trị hơn nhằm áp dụng vào cuộc sống của con người. Con người muốn làm NCKH phải có kiến thức nhất định về lĩnh vực nghiên cứu cụ thể và cái chính là phải rèn luyện cách làm việc tự lực, có phương pháp tư duy và làm việc từ lúc ngồi trên ghế nhà trường. Cán bộ nghiên cứu khoa học: Cán bộ NCKH là người thực hiện công việc nghiên cứu khoa học, mà ở đây là những cán bộ chuyên nghiệp có trình độ (học vị) cao đẳng, đại học, thạc sĩ và tiến sĩ, có học hàm phó giáo sư, giáo sư, hoặc một số người có thể không có văn bằng chính thức, song họ cũng làm các công việc tương đương như nhà nghiên cứu/ nhà khoa học, tham gia vào quá trình tạo ra tri thức, sản phẩm và quy trình mới, tạo ra phương pháp và hệ thống mới. Đội ngũ cán bộ nghiên cứu khoa học: 12 Đội ngũ cán bộ NCKH là một nhóm người đều có trình độ chuyên môn được tập hợp thành một lực lượng để cùng thực hiện công việc NCKH.