phần mở đầu, kết luận, bảng biểu, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được trình bày trong 3 chương như sau : Chƣơng 1 : Tổng quan về phát triển DVNH. Chƣơng 2 : Thực trạng phát triển DVNH tại Vietinbank Bình Dƣơng Chƣơng 3 : Giải pháp phát triển DVNH tại Vietinbank Bình Dƣơng TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -4- CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG 1.1 Khái niệm DVNH: Cùng với sự phân công lao động xã hội ngày càng sâu sắc, các ngành sản xuất vật chất và phục vụ đời sống con người ngày càng phát triển. Xét về nguồn gốc thì ngành dịch vụ ra đời cùng với sự xuất hiện của nền kinh tế hàng hóa. Gắn với sự phát triển của nền kinh tế, vai trò của ngành dịch vụ ngày càng quan trọng, quan niệm về dịch vụ cũng dần thay đổi.
Lĩnh vực dịch vụ không đơn thuần chỉ là chức năng lưu thông, phân phối mà còn được phát triển rất đa dạng với nhiều ngành nghề khác nhau như: Bưu chính viễn thông, y tế, giáo dục, vận tải, du lịch, ngân hàng, bảo hiểm, dịch vụ tài chính, tư vấn… Như vậy, có thể hiểu một cách chung nhất: Dịch vụ là những hoạt động lao động mang tính xã hội, tạo ra các sản phẩm hàng hóa không tồn tại dưới hình thức vật thể, không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu nhằm thỏa mãn kịp thời, thuận lợi và hiệu quả các nhu cầu của sản xuất và đời sống sinh hoạt của con người. Trong thực tế có nhiều loại hình dịch vụ khác nhau đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của con người và DVNH là một bộ phận cấu thành của dịch vụ tài chính. Theo quy định chung của Hiệp định GATS, DVNH không có khái niệm riêng mà được coi như một loại hình dịch vụ tài chính. Cũng theo Hiệp định này, dịch vụ tài chính là bất kỳ dịch vụ nào có tính chất tài chính bao gồm các dịch vụ bảo hiểm và dịch vụ liên quan đến bảo hiểm, các DVNH và dịch vụ tài chính khác.
Trước xu thế hội nhập quốc tế ngày càng cấp thiết như hiện nay thì quan niệm về DVNH đã được đổi mới theo thông lệ quốc tế. Theo đó, khái niệm DVNH hiện nay có thể được hiểu chung nhất đó là các công việc trung gian về tiền tệ của các tổ chức nhằm đáp ứng các nhu cầu của khách hàng và đem lại nguồn thu phí cho các tổ chức cung ứng dịch vụ. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2 Vai trò của DVNH: * Đối với nền kinh tế: Thông qua hoạt động của hệ thống ngân hàng, DVNH làm tăng quá trình chu chuyển tiền tệ trong nền kinh tế, khai thác và sử dụng các nguồn vốn trong nền kinh tế thêm hiệu quả. Từ đó các “khối tiền tệ” bất động trở nên sống động hơn, di chuyển từ nơi này đến nơi khác, từ khách hàng này sang khách hàng khác, đáp ứng các nhu cầu cho hoạt động kinh tế – xã hội, thúc đẩy sản xuất kinh doanh, tiêu dùng và góp phần vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
DVNH góp phần tích cực mang lại lợi ích chung cho nền kinh tế, cho khách hàng và ngân hàng thông qua việc giảm chi phí nhờ sự tiện ích và chuyên môn hoá của từng loại dịch vụ: giảm chi phí in ấn, kiểm đếm, bảo quản, vận chuyển tiền, cũng như tiết kiệm nhân lực và giúp khách hàng có nhiều cơ hội để lựa chọn sản phẩm dịch vụ. DVNH tạo nguồn thu ngoại tệ cho quốc gia từ các nguồn kiều hối nước ngoài chuyển về. DVNH góp phần chống tham nhũng, gian lận thương mại, buôn lậu, trốn thuế điển hình như việc trả lương qua thẻ ATM sẽ góp phần chống tham nhũng, trốn thuế vì tài khoản tại ngân hàng sẽ thể hiện rõ thu nhập của cá nhân và việc kiểm tra nghĩa vụ nộp thuế của họ rất đơn giản. Việc phát triển các sản phẩm, DVNH và phổ biến các sản phẩm, DVNH rộng rãi đến các tầng lớp dân giúp cho người dân làm quen với việc giao dịch thanh toán qua ngân hàng và dần dần từ bỏ thói quen dùng tiền mặt, góp phần thúc đẩy việc phát triển nền kinh tế nước nhà.
* Đối với khách hàng: DVNH tạo điều kiện cho quá trình sản xuất kinh doanh được tiến hành trôi chảy, nhịp nhàng, thúc đẩy đồng vốn luân chuyển nhanh, góp phần đẩy nhanh tốc độ sản xuất, luân chuyển hàng hóa. Hệ thống NHTM giúp các doanh nghiệp chuyển đổi cơ cấu sản xuất, dịch chuyển vốn đầu tư, đổi mới trang thiết bị, công TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -6- nghệ, nhằm hạ giá thành sản phẩm, nâng cao sức cạnh tranh, nhất là trong giai đoạn hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế. DVNH giúp cải thiện đời sống, kích thích tiêu dùng và đáp ứng ngày càng đa dạng các nhu cầu về DVNH tiện ích và hiện đại cho các cá nhân trong xã hội. * Đối với ngân hàng: DVNH đem lại cho ngân hàng các khoản gia tăng thu nhập về phí dịch vụ.
Phát triển DVNH đa dạng, nhiều tiện ích theo hướng cải tiến phương thức thanh toán, đơn giản hóa thủ tục, mở rộng mạng lưới hoạt động .và danh mục DVNH ngày càng được mở rộng đáp ứng đa dạng nhu cầu sử dụng của các đối tượng khách hàng, từ đó làm tăng nguồn thu dịch vụ cho ngân hàng. Khi các NHTM xây dựng được mạng lưới khách hàng đa dạng, rộng khắp sẽ làm nền tảng để phát triển các DVNH, từ đó tăng dần khả năng thích ứng, cạnh tranh của các NHTM và góp phần làm vững mạnh thêm nền tài chính quốc gia.3 Các loại hình DVNH tại các NHTM: Quá trình mở rộng danh mục dịch vụ ngân hàng đã tăng tốc trong những năm gần đây dưới áp lực cạnh tranh gia tăng từ các TCTD trong và ngoài nước, từ sự phát triển của nền kinh tế và từ sự hiểu biết cũng như đòi hỏi cao hơn của khách hàng. DVNH ngày càng phát triển đa dạng và không có giới hạn, mỗi ngân hàng có những danh mục dịch vụ khác nhau nhưng nhìn chung đều có các dịch vụ phổ biến sau: 1.1 Dịch vụ tiền gửi: Đây là dịch vụ truyền thống chủ yếu và quan trọng nhất của bất kì một NHTM nào, tính chất quan trọng của dịch vụ tiền gửi được thể hiện ở chỗ nó không chỉ mang lại nguồn vốn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn của các ngân hàng mà vì nó là tiền nhàn rỗi của xã hội được huy động và tập trung để sử dụng có hiệu quả cho các yêu cầu của nền kinh tế - xã hội. Để thu hút được nguồn tiền gửi, các NHTM cung ứng các dịch vụ tiền gửi như sau: TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -7- - Tiền gửi thanh toán: Là loại hình tiền gửi không kỳ hạn được sử dụng với mục đích chủ yếu là thực hiện các giao dịch thanh toán qua Ngân hàng bằng các phương tiện thanh toán như: séc lĩnh tiền mặt, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu,.
- Tiền gửi tiết kiệm: Là khoản tiền của cá nhân được gửi vào tài khoản tiền gửi tiết kiệm, được xác nhận trên thẻ tiết kiệm, được hưởng lãi theo quy định của tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm và được bảo hiểm theo quy định của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi bao gồm tiền gửi không kỳ hạn và tiền gửi có kỳ hạn.2 Dịch vụ thẻ: Thẻ Ngân hàng là một công cụ thanh tóan tiên tiến, hiện đại. Người sở hữu thẻ có thể sử dụng thẻ trong việc thanh toán tiền mua hàng hóa, dịch vụ hoặc rút tiền mặt tại các máy trả tiền tự động (ATM). Các loại thẻ Ngân hàng: - Căn cứ vùng phạm vi sử dụng thẻ Ngân hàng chia làm hai loại : + Thẻ nội địa : đây là loại thẻ thanh toán được phát hành tại Việt Nam, được sử dụng trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam. + Thẻ quốc tế : là loại thẻ do ngân hàng phát hành thẻ tại Việt Nam được sử dụng trong và ngoài phạm vi lãnh thổ Việt Nam hoặc được phát hành ở nước ngoài sử dụng tại Việt Nam.
- Căn cứ vào tính chất sử dụng thẻ ngân hàng chia làm hai loại : + Thẻ thanh toán (ATM): Lọai thẻ này áp dụng rộng rãi cho mọi đối tượng khách hàng trong và ngoài nước. Với điều kiện là khách hàng phải mở tài khoản tại ngân hàng phát hành thẻ và phải lưu ký tiền trên tài khoản này một số dư nhất định theo quy định ngân hàng phát hành thẻ. Chủ thẻ được sử dụng thẻ này để thanh tóan tiền hàng hóa, dịch vụ, hoặc rút tiền mặt trong phạm vi số dư tài khỏan tiền gửi của mình tại ngân hàng phát hành thẻ. + Thẻ tín dụng (Credit card): Thẻ tín dụng là lọai thẻ áp dụng cho những khách hàng có đủ điều kiện được ngân hàng phát hành thẻ tin tưởng và cho vay theo hạn mức tín dụng.
Đối với thẻ tín dụng, chủ thẻ không phải ký quỹ trên tài khỏan tiền gửi, nhưng được phép sử dụng thẻ để trả tiền hàng hóa, dịch vụ, hoặc rút tiền trong TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -8- phạm vi hạn mức tín dụng đã được ngân hàng phát hành thẻ chấp thuận theo hợp đồng. Chủ thẻ sau khi sử dụng thẻ phải thanh toán (nợ gốc, lãi) cho ngân hàng phát hành thẻ trong thời hạn quy định.3 Dịch vụ thanh toán và ngân quỹ: Hiện nay các ngân hàng đang sử dụng rộng rãi các dịch vụ thanh toán như thanh toán điện tử liên ngân hàng, thanh toán bù trừ…làm cho tỷ trọng thanh toán không dùng tiền mặt năm 2010 tăng lên trên 85% tổng khối lượng thanh toán. Dịch vụ ngân quỹ cũng được phát triển với hình thức đa dạng và phong phú hơn. - Dịch vụ thanh toán trong nước: Là các dịch vụ thanh toán qua hệ thống ngân hàng như: Thanh toán bằng uỷ nhiệm chi, uỷ nhiệm thu, thanh toán bằng thẻ, chuyển khoản thanh toán tự động định kỳ, thanh toán lương qua tài khoản,….
- Dịch vụ thanh toán quốc tế: Quan hệ thương mại quốc tế tất yếu dẫn đến nảy sinh những nghĩa vụ tiền tệ giữa các chủ thể ở các quốc gia khác nhau. Việc thực hiện những nghĩa vụ tiền tệ là thực hiện quan hệ thanh toán quốc tế được tiến hành thông qua các phương thức thanh toán như phương thức chuyển tiền, phương thức nhờ thu, phương thức tín dụng chứng từ. - Dịch vụ ngân quỹ: Thu chi tại quầy: Ngân hàng nhận tiền mặt từ các khách hàng có nhu cầu nộp vào ngân hàng để gửi tiết kiệm, gửi vào tài khoản thanh toán, trả nợ vay, chuyển trả tiền hàng, thu đổi ngoại tệ,… tại quầy giao dịch của ngân hàng.