Chương 1: Dịch vụ ngân hàng điện tử và phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử dành cho khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại. - Chương 2: Thực trạng phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử dành cho khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam - Chương 3: Giải pháp phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử dành cho khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam. DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ VÀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ DÀNH CHO KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Dịch vụ ngân hàng điện tử dành cho khách hàng cá nhân 1.1 Khái quát dịch vụ ngân hàng điện tử 1.1Khái niệm dịch vụ ngân hàng điện tử Thương mai điện tử là một hình thức thương mại đang được phát triển rầm rộ hiện nay. Mặc dù nền kinh tế toàn cầu đang trong giai đoạn khủng hoảng nhưng thương mại điện tử vẫn đạt được những thành tựu nhất định.
Theo báo cáo thương mại điện tử Việt Nam năm 2012 của Cục Thương mai điện tử và Công nghệ thông tin, Bộ Công thương, công ty công nghệ thanh toán toàn cầu Visa đã thực hiện một cuộc khảo sát, theo đó 71% đối tượng được khảo sát đã mua hàng trực tuyến trong năm 2012 và dự đoán năm 2013 là 90%, so với tỉ lệ 30% năm 2011 có thể thấy sự tăng trưởng nhanh chóng về mức độ tham gia thương mại điện tử của người tiêu dùng. Theo xu hướng điện tử hóa đó các ngành, hệ thống ngân hàng cũng tận dụng triệt để sự phát triển của thương mại điện tử, mở ra hướng phát triển mới, góp phần tăng sức cạnh tranh trong thị trường tài chính. Đó là lý do cho sự phát triển không ngừng của các dịch vụ ngân hàng điện tử tại các hệ thống ngân hàng trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng ngày nay. Dịch vụ ngân hàng điện tử (Enectronic Banking, viết tắt là E-Banking), hiểu theo nghĩa trực quan là một loại dịch vụ ngân hàng được khách hàng thực hiện nhưng không phải tại quầy cùng với nhân viên ngân hàng mà thông qua các phương tiện điện tử (công nghệ thông tin, điện tử, kỹ thuật số, từ tính, truyền dẫn không dây, quang học, 11 điện từ hoặc các công nghệ tương tự).
Hiểu theo một nghĩa rộng hơn, E-Banking là sự kết hợp giữa một số hoạt động dịch vụ ngân hàng truyền thống với công nghệ thông tin và điện tử viễn thông mà bản chất của sự kết hợp này chính là một dạng thương mại điện tử được ứng dụng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cũng đã định nghĩa về dịch vụ ngân hàng điện tử là : “Các dịch vụ và sản phẩm ngân hàng hiện đại và đa tiện ích được phân phối đến khách hàng bán buôn và bán lẻ một cách nhanh chóng (trực tuyến, liên tục 24h/ngày và 7 ngày/tuần, không phụ thuộc vào không gian và thời gian) thông qua kênh phân phối (Internet và các thiết bị truy nhập đầu cuối khác như máy tính, máy ATM, POS, điện thoại để bàn, điện thoại di động…) được gọi là dịch vụ ngân hàng điện tử”.2Sự ra đời dịch vụ ngân hàng điện tử Khởi đầu công nghệ trong hệ thống ngân hàng bắt đầu từ những năm 70, khi các ngân hàng bắt đầu xây dựng hệ thống xử lý dữ liệu tập trung. Khi đó, vai trò của trung tâm xử lý dữ liệu là thu thập các tài liệu viết tay từ các chi nhánh, hỗ trợ thực hiện một số giao dịch ngân hàng và khai thác báo cáo. Sang thập kỷ 80, các ngân hàng bắt đầu đầu tư vào công nghệ.
Bước đầu tiên là các “offline branch”, ngân hàng sử dụng các thiết bị đầu cuối kết nối với máy tính chi nhánh tại các địa phương. Bước thứ 2 là các “online branch”, các chi nhánh truyền “online” các giao dịch lên máy tính trung tâm để xử lý giao dịch. Nhờ công nghệ này, đến cuối những năm 80, công nghê mới trong ngân hàng đã bắt đầu phổ biến. Các ngân hàng đi đầu trong việc sử dụng dịch vụ ngân hàng điện tử phải kể đến bốn ngân hàng lớn tại New York: Citibank, Chase Manhatan, Chemical và Manufacturers Hanove, đến năm 1983 thì bắt đầu phát triển tại Anh.
Ở Anh, một hệ thống có tên là “Home link” được cung cấp bởi công nghệ Nottingham Building 12 Society (NBS), cho phép khách hàng có thể thực hiện chuyển khoản, thanh toán hóa đơn hoặc xem chi tiết các giao dịch đã thực hiện. Để thực hiện một giao dịch chuyển khoản hoặc thanh toán hóa đơn, khách hàng có thể chuyển tiền qua hệ thống NBS để hệ thống này xử lý trước khi tiền được chuyển tới tài khoản của người nhận, các công ty điện, nước, khí đốt… Những năm 90s chứng kiến sự ra đời của công nghệ tính toán phân tán và hệ thống quản lý dữ liệu. Công nghệ cho phép vừa hỗ trợ các dịch vụ khách hàng, vừa kiểm soát được những rủi ro của hệ thống, nhờ đó các dịch vụ ngân hàng ngày càng được phát triển. Cạnh tranh khốc liệt đã buộc các ngân hàng phải cải tiến hoạt động của mình nhăm mang lại lợi nhuận cao với chi phí hiệu quả hơn.
Khi đó công nghệ được sử dụng trong các dịch vụ ngân hàng điện tử được xem là giải pháp tốt nhất cho các ngân hàng. Tính đến nay, các công nghệ mới trong ngành công nghệ thông tin đều được các ngân hàng mạnh tay đầu tư nhằm tăng tốc độ xử lý, tăng tính an toàn bảo mật, tăng tính tiện ích sử dụng cho khách hàng và việc ngày càng có nhiều người biết đến và sử dụng các dịch vụ ngân hàng điện tử đã khiến thế giới nhìn nhận về các ngân hàng dưới góc nhìn mới.3Đặc điểm dịch vụ ngân hàng điện tử Dịch vụ ngân hàng điện tử đã phát huy toàn bộ những ưu điểm của ngành thương mại điện tử nói chung. Sự nhanh chóng và thuận tiện: Dịch vụ ngân hàng điện tử là một kênh giao dịch có thể giúp khách hàng liên lạc với ngân hàng một cách nhanh chóng, dễ dàng, tại bất cứ thời điểm nào (24 giờ, 7 ngày trong tuần) và ở bất cứ nơi đâu. Điều này đặc biệt có ý nghĩa với những người có ít thời gian để đến ngân hàng giao dịch, các khách hàng 13 vừa, nhỏ, khách hàng cá nhân có số tiền giao dịch không quá lớn hoặc phát sinh các giao dịch cần đáp ứng tức thời.
Tiết kiệm chi phí, tăng doanh thu: Chi phí cho kênh giao dịch dịch vụ ngân hàng điện tử được đánh giá là có mức rất thấp so với các kênh giao dịch truyền thống, từ đó góp phần tăng doanh thu hoạt động cho ngân hàng. Bảng 1-1 So sánh chi phí giao dịch qua ngân hàng điện tử và ngân hàng truyền thống STT Hình thức giao dịch Phí bình quân 1 GD ($) 1 Qua nhân viên ngân hàng 1.07 2 Qua điện thoại 0.54 3 Giao dịch trên ATM 0.27 4 Giao dịch qua Internet 0.015 (Nguồn: Thống kê của Cục CNTT) Mở rộng phạm vi hoạt động và tăng khả năng cạnh tranh: E- banking là một giải pháp của NHTM nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ và hiệu quả hoạt động, qua đó nâng cao khả năng cạnh tranh của NHTM. Một điều hết sức quan trọng khác, dịch vụ ngân hàng điện tử giúp cho các NHTM thực hiện được chiến lược toàn cầu hóa mà không nhất thiết phải mở thêm chi nhánh trong nước cũng như nước ngoài. Dịch vụ ngân hàng điện tử còn là một công cụ quảng bá thương hiệu đắc lực cho các NHTM.
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn: Xét dưới góc độ kinh doanh, dịch vụ ngân hàng điện tử là công cụ hữu hiệu giúp các NHTM nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. 14 Thông qua hệ thống điện tử, giao dịch của khách hàng được thực hiện một cách nhanh chóng, hiệu quả giúp luồng tiền, hàng hóa di chuyển nhanh và chính xác. Tăng khả năng chăm sóc và thu hút khách hàng: Chính nhờ sự tiện ích khai thác được từ hệ thống công nghệ thông tin, phần mềm, nhà cung cấp dịch vụ Internet đã thu hút, làm hài lòng khách hàng, giúp ngân hàng gia tăng thêm số lượng khách hàng truyền thống, từ đó có nhiều chính sách ưu đãi hơn nữa đối với các khách hàng thân thuộc này. Cung cấp dịch vụ trọn gói: Điểm đặc biệt này của dịch vụ ngân hàng điện tử tạo nên nét riêng đối với các dịch vụ thương mại điện tử khác và là lợi thế cực kì quan trọng của dịch vụ ngân hàng điện tử.
Theo đó, khi các ngân hàng liên kết với các công ty bảo hiểm, công ty chứng khoán, công ty tài chính khác để đưa ra các gói sản phẩm tiện ích nhằm đáp ứng mọi nhu cầu của một khách hàng hay của nhóm khách hàng, vừa tăng tính tiện lợi cho khách hàng, vừa tăng thu nhập nhờ các hoạt động bán chéo sản phẩm. Bên cạnh những ưu điểm tuyệt vời trên, khi phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử các NHTM cũng vướng phải các vấn đề sau: Vốn đầu tư lớn: Để xây dựng một hệ thống dịch vụ ngân hàng điện tử hiệu quả, đòi hỏi cần phải có một lượng vốn đầu tư ban đầu lớn nhằm lựa chọn công nghệ hiện đại, đúng định hướng, chưa kể tới các chi phí cho hệ thống dự phòng, phòng chống thảm họa, chi phí bảo trì, duy trì và phát triển hệ thống, đổi mới công nghệ cho kịp thời đại. Đồng thời cần có một đội ngũ cán bộ kỹ thuật có trình độ quản lý, vận hành hệ thống an toàn, bảo mật…mà tất cả các chi phí này không phải ngân hàng nào cũng có thể mạnh tay đầu tư. 15 Rủi ro cao: Vốn và công nghệ là một vấn đề lớn nhưng vẫn có thể giải quyết được nếu định hướng của NHTM là đẩy mạnh phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử và chịu đầu tư.
Tuy nhiên, còn một vấn đề nan giải hơn, đáng bàn hơn đó là tính an toàn, bảo mật của hệ thống dịch vụ ngân hàng điện tử. Rủi ro trong hoạt động này thực sự là không nhỏ, khi các giao dịch không hề được thực hiện trực tiếp giữa khách hàng và nhân viên ngân hàng mà hoàn toàn được nhận diện thông qua hệ thống. Trong tình huống khách hàng bị mất mật khẩu giao dịch tài chính thì ngân hàng thực sự rất khó khăn trong việc đâu mới là giao dịch phát sinh chính xác từ phía khách hàng của mình.