CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN CÂY CAO SU 1. ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC VÀ VAI TRÒ CỦA CÂY CAO SU 1. Đặc điểm của cây cao su a. Đặc điểm sinh học Thông thường cây cao su có chiều cao khoảng 20m, rễ ăn rất sâu để giữ vững cây, hấp thu chất dinh dưỡng và chống lại sự khô hạn.
Cây có võ nhẵn, màu nâu nhạt. Lá thuộc dạng lá kép, mỗi năm rụng lá một lần, hoa thuộc loại hoa đơn, hoa được bao quanh hoa cái nhưng thường thụ phấn chéo vì hoa đực chín sớm hơn hoa cái. Cây phát triển tốt ở vùng nhiệt đới ẩm, có nhiệt độ trung bình từ 2200C đến 3000C, cần mưa nhiều (tốt nhất là 2000mm) nhưng không chịu được sự úng nước và gió. Cây cao su có thể chịu được nắng hạn khoảng 4 đến 5 tháng, tuy nhiên năng suất mũ sẽ giảm.
Trong sản xuất người ta trồng cây cao su với mật độ từ 400 – 571 cây/ha, chia làm 2 thời kỳ: - Thời kỳ kiến thiết cơ bản (KTCB) Là khoảng thời gian 7 năm tính từ khi trồng cây, đây là thời gian nhà nông chỉ đầu tư chứ không thu lợi nhuận, vì thế cần tìm cách rút ngắn giai đoạn này là hướng quan trọng trong sản xuất cao su hiện nay. Đây là khoảng thời gian cần thiết để vanh thân cây cao su đạt 50 cm đo cách mặt đất 1 m. Tùy điều kiện sinh thái, chăm sóc và giống, ở điều kiện sinh thái đặc thù của vùng duyên hải miền Trung, thời gian KTCB phổ biến từ 7 – 8 năm. Tuy nhiên với điều kiện chăm sóc, quản lý vườn cây đúng quy trình, chọn giống và vật liệu trồng thích hợp thì có thể rút ngắn thời gian KTCB từ 06 tháng đến 1 năm.
Cây cao su 1 đến 3 năm tuổi người nông dân cần có kế hoạch trồng xen các loại cây ngắn ngày để góp phần tăng thêm thu nhập, đồng thời có tác dụng 9 giữ đất. Tùy theo chân đất nguồn vốn mà chọn loại cây trồng xen cho phù hợp. Bên cạnh đó, để rút ngắn giai đoạn này cần phải tiến hành chăm sóc ngay từ đầu đặc biệt là khâu bón phân và làm cỏ. Nếu thiếu dinh dưỡng trong giai đoạn thì giai đoạn kinh doanh sinh trưởng kém, lượng mủ thấp.
Hơn thế nữa việc bù đắp thiếu hụt dinh dưỡng của cây khi cây bước vào giai đoạn kinh doanh thường không mang lại hiệu quả cao và tốn kém hơn nhiều. - Thời kỳ kinh doanh (TKKD) Đây là thời kỳ dài nhất tính từ khi cây bắt đầu khai thác mủ cho đến khi cây thanh lý. Căn cứ vào khả năng cho mủ người ta chia làm 3 thời kỳ: + Thời kỳ khai thác cao su non Thời kỳ này kéo dài từ 10 đến 12 năm, cây phát triển mạnh về số lượng cành nhánh, chu vi thân, độ dày vỏ và sản lượng mủ tiếp tục tăng. Vỏ ở thời kỳ này mỏng, mềm đang tăng trưởng mạnh nên việc cạo mủ phải có tay nghề cao tránh cạo phạm vào gỗ.
Vườn cao su thời kỳ này thường âm u ẩm thấp là môi trường thuận lợi cho nhiều loại bệnh phát triển mạnh thành dịch đặc biệt là bệnh phấn trắng, bệnh rụng lá mùa mưa. Trong giai đoạn này cần cung cấp dinh dường đầy đủ để tăng lượng mủ. Dùng phân HCSH HUMIX chuyên dùng cho cao su. + Thời kỳ cao su khai thác trung niên Khi năng suất không còn tăng nhiều nữa và giữ vững mức năng suất đó thì cao su bước vào thời kỳ khai thác trung niên.
Tùy theo chế độ chăm sóc, khai thác trước đó, khai thác hiện tại và giống mà thời kỳ này dài hay ngắn. Nếu trong các thời kỳ trước không được chăm sóc tốt thì bước vào thời kỳ này chỉ duy trì năng suất cao trong 1 thời gian ngắn và sau đó giảm năng suất. Bên cạnh đó khai thác giai đoạn trước thái quá và cạo phạm cũng gay trở ngại lớn. + Thời kỳ khai thác cao su già Khi năng suất mủ giảm mạnh và không có cách nào phục hồi được thì 10 lúc đó cây đã bước vào thời kỳ khai thác cao su già.
Lúc nào vườn cây rất mẫn cảm với bệnh rụng lá mùa mưa. Đặc điểm tính mủ của cây cao su - Mủ tờ xông khói: Có tên thương mại là RSS từ RSS1 đến RSS6 tùy theo chất lượng mủ, đây là loại mủ được sản xuất nhiều nhất ( trên 40% tổng sản lượng ). Đây là loại mủ đặc trưng của các vườn cây tiểu điền, mủ tơ xông khói chế biến đơn giản như sử dụng nguyên liệu củi để xông. - Mủ khối (TSR): với tên thương mai theo định chuẩn từng nước như SỈ, SMR, TTR, CSV… chiếm từ 30 – 40% sản lượng.
Mủ khối được sản xuất từ mủ nước sẽ cho ra các chủng loại có chất lượng cao như CV, L, 5L, chủ yếu do các đại điền sản xuất (chỉ chiếm 15 – 20%). Các tiểu điền cung cấp loại mủ đã được đánh đông sẽ sản xuất các chủng loại STR 20 có chất lượng tương đương RSS 3,4,5… Do các vườn cây trên thế giới là vườn cây tiểu điền, mủ đưa đến các nhà máy thường là mủ đã đánh đông nên phần lớn mủ khối là mủ có tiêu chuẩn trung bình chiếm đến 80% sản lượng mủ khối sản xuất ra trừ Việt Nam, Trung Quốc, Sri Lanka. Đây là loại sản phẩm chiếm tỷ lệ cao trong cơ cấu sản phẩm của ngành cao su Việt Nam (khoảng 78%). - Mủ ly tâm là mủ ở dạng lỏng, thường có DRC (hàm lượng chất khô) từ 60 – 70%, được sử dụng để làm các sản phẩm nhúng như nệm, gang tay, condom… Loại mủ này các tiêu chuẩn kỹ thuật khá gắt gao và có thể chế biến từ mủ chưa đánh đông và một số giống nhất định, mủ ly tâm được sản xuất khoảng 10% tổng sản lượng.
Giá trị kinh tế của cây cao su Về giá trị kinh tế của mủ cao su thiên nhiên là nguyên liệu độc quyền trong thời gian đầu của thế kỷ XX, sau chiến tranh thế giới thứ II sự xuất hiện cao su nhân tạo làm từ dầu mỏ, cao su thiên nhiên bị cạnh tranh gay gắt trong 11 nhiều thập kỷ. Do cao su là sản phẩm quan trọng của nhiều ngành công nghiệp nên giá mủ cao su luôn ổn định trong thời gian dài. Những năm gần đây cùng với thị trường Trung Quốc rộng lớn nhập khẩu cao su Việt Nam trên 70% kế đến là thị trường Nga, Hàn Quốc, EU, Hoa Kỳ và một số nước khác; cũng như chất lượng mủ càng ngày càng được cải tiến nên giá cao su xuất khẩu bình quân 2.054 USD/tấn đã đem lại nhiều lợi ích thiết thực cho đất nước tăng kim ngạch xuất khẩu, thu ngoại tệ. Việt Nam hiện đang đứng thứ 4 thế giới về sản lượng xuất khẩu cao su thiên nhiên.
Sản lượng cao su của Việt Nam được xuất khẩu ra 39 nước trên thế giới, trong đó, Trung Quốc chiếm 60%. Sản lượng khai thác và xuất khẩu cao su của Việt Nam năm 2010 tăng từ 10-15% so với năm 2009, với mức tiêu thụ cao su thiên nhiên đạt khoảng 10,43 triệu tấn, tăng 8% so năm 2009. Theo các doanh nghiệp trong ngành cao su, liên tục nhiều năm trở lại đây, xuất khẩu cao su của Việt Nam đã tăng mạnh nhờ sản lượng khai thác ngày càng tăng và giá cao su thế giới tăng đột biến. Hoạt động xuất khẩu mủ cao su được diễn ra chủ yếu ở các cửa khẩu biên giới phía Bắc, đặc biệt ở Móng Cái (Quảng Ninh) hết sức sôi động.
Các thương nhân Trung Quốc gom hàng với số lượng lớn và hình thức buôn bán tiểu ngạch vẫn phổ biến. Tính đến hết tháng 5/2013, tổng lượng cao su thiên nhiên xuất khẩu đạt 292 ngàn tấn, trị giá 760 tỷ đô la, tăng 530 tỷ đô la so với 5/2010 và 766 tỷ đô la so với 5/2009. Nhờ vào sự tăng giá cao su trong thời gian qua, ngành cao su Việt Nam đã thiết lập nhiều kỷ lục, đặc biệt về kim ngạch xuất khẩu. Trong năm 2010, theo Hiệp hội cao su Việt Nam, tổng khối lượng cao su xuất khẩu đạt 780.000 tấn (tăng trưởng 8.03%), kim ngạch xuất khẩu đạt USD 2,39 tỷ (tăng trưởng 10,75%).
Vai trò của phát triển cây cao su a. Khai thác hiệu quả tài nguyên đất đai, khí hậu Theo số liệu thống kê tổng hợp diện tích đất theo vùng sinh thái thì diện tích đất trống, đồi núi trọc có thể sử dụng để phát triển cây cao su ở nước ta có thể lên đến 600. Nếu tính cả quỹ đất do Bộ Lâm nghiệp quản lý, ước tính lên đến 50% hiện trạng không có rừng và một số diện tích đang trồng cây ngắn ngày kém hiệu quả thì diện tích này phát triển cao su lên đến 1. Như vậy, phát triển cây cao su sẽ giúp khai thác triệt để nguồn tài nguyên đất đai.
Ngoài ra, một số vùng mà đất không những chưa được khai thác mà ngày càng bị hủy hoại bởi con người và điều kiện, tự nhiên, khí hậu. Sự phân bố lượng mưa không đều trong năm kết hợp với độ dốc khiến tình trạng thiếu nước trong mùa khô của các khu vực này rất trầm trọng. Trong tình hình đó, các loại cây dài ngày có khả năng chịu hạn được xem là các cây trồng chủ lực trong việc khai thác đất đai. Cây cao su đáp ứng được mục tiêu trên ngoài yếu tố tăng độ che phủ nó còn là cây cây trồng cho hiệu quả cao về mặt kinh tế.
Ở khu vực Tây Nguyên với vùng đất chủ yếu là đất đỏ bazan, là loại đất được đánh giá là giàu chất dinh dưỡng và thích hợp với nhiều loại cây trồng chưa được sử dụng hiệu quả, thì với chiến lược phát triển ngành cao su sẽ có thể khai thác triệt để nguồn tài nguyên quý giá này b. Đóng góp cho phát triển đời sống xã hội Cây cao su với hình thức phát triển có tổ chức luôn hình thành cùng với vườn cây các khu dân cư tập trung tạo điều kiện dễ dàng hơn trong việc đầu tư các công trình phúc lợi công cộng. Góp phần xây dựng một cơ cấu kinh tế tiến bộ, đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động trong nông nghiệp, nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và xây dựng nền nông nghiệp bền vững. Việc phát triển cao su còn kéo theo sự phát 13 triển cơ sở hạ tầng gồm hệ thống đường, điện, nước.
Những yếu tố này sẽ giúp người dân nâng cao dân trí, tăng sự giao lưu kinh tế và văn hóa trong khu vực. Điều này đã được minh chứng qua việc phát triển của các công ty cao su trong khu vực.