CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỘ KINH DOANH 1. Khái niệm hộ kinh doanh Khi tiến hành nghiên cứu một số cách định nghĩa của hộ kinh doanh theo quy định pháp luật của một số quốc gia phát triển, có nhiều tên gọi cho loại hình này và đây là một trong những hình thức kinh doanh tương đối phổ biến bởi sự đơn giản trong thủ tục, chi phí tham gia thị trường thấp vì những lợi ích đó mà loại hình này vẫn khá được ưu tiên và được các nhà lập pháp ở các quốc gia này quan tâm cụ thể: Tại Hà Lan, mô hình hộ kinh doanh được xác định là mô hình doanh nghiệp một chủ (One-Man Business) có ít hơn 9 lao động, hoặc một cá nhân tự làm chủ, tự kinh doanh và không sử dụng bất cứ nhân viên nào. Theo quy định này có thể thấy hộ kinh doanh sẽ được gắn với mô hình doanh nghiệp và một chủ khi tiến hành kinh doanh được giới hạn số lượng lao động dưới 09 người và đặc biệt với mô hình này không sử dụng bất kì nhân viên nào, có thể hiểu cách định nghĩa này hộ kinh doanh được đánh đồng là một doanh nghiệp (một chủ) và sẽ không được thuê lao động cho mô hình vì thế có thể nghĩ ngay đến việc số lượng lao động này xuất phát từ chính là các thành viên trong gia đình của hộ kinh doanh. Tại Singapore, hộ kinh doanh được coi như loại hình kinh tế doanh nghiệp cá thể (sole proprietorship).
Đây là loại hình doanh nghiệp thuộc sở hữu của một người hoặc một công ty, không có đối tác và chủ sở hữu có toàn quyền đối với cáchoạt động của doanh nghiệp. Theo quy định này cũng được xác định là doanh nghiệp cá thể có sự đánh đồng nhất định về khái niệm cũng như về mặt sở hữu ở đây bao gồm cả cá nhân và công ty tức là hộ kinh doanh ở Singapore có thể được thành lập bởi một công ty khác, và chủ sở hữu có toàn quyền với loại hình này. 8 Theo đánh giá chung thì khái niệm về hộ kinh doanh ở một số quốc gia thường được định nghĩa một cách chung chung gắn liền với khái niệm doanh nghiệp từ đó có thể dẫn đến việc hiểu nhầm đi bản chất của hộ kinh doanh cũng như các yếu tố về trách nhiệm không được đề cập điều này sẽ dẫn đến các vấn đề như nhà làm luật phải có các văn bản hướng dẫn chi tiết hoặc khi áp dụng tùy thuộc vào pháp luật mà có thể có sự giải thích ứng dụng khác nhau. Trong nền kinh tế nước ta hộ kinh doanh là chủ thể kinh doanh chiếm số lượng đông đảo và được pháp luật thừa nhận bởi các quy định pháp luật, đối với chủ thể này có nhiều cách gọi khác nhau như: hộ cá thể, hộ kinh doanh cá thể hay hộ kinh doanh dưới mỗi thời kì mỗi góc độ thì có những cách gọi khác nhau tuy nhiên về bản chất của hộ kinh doanh thì không có sự thay đổi.
Xét về phương diện ngôn ngữ, theo từ điển Tiếng việt năm 2003 thì“hộ” được hiểu là “đơn vị quản lí dân số gồm những người cùng ăn ở chung với nhau” và “kinh doanh” được hiểu là “việc tổ chức việc sản xuất, buôn bán, dịch vụ nhằm mục sinh lợi”. Vậy hộ kinh doanh theo hai định nghĩa trên được hiểu là để chỉ những một nhóm người cùng ăn ở chung với nhau tại một địa điểm thực hiện việc tổ chức sản xuất, buôn bán, dịch vụ nhằm mục đích sinh lợi. Hay nói cách khác là một nhóm người có thể hiểu đây là một gia đình có quan hệ huyết thống với nhau và thực hiện các công việc từ sản xuất đến mua bán và cung cấp dịch vụ trong hoạt động kinh doanh và mang bản chất thuần túy của hoạt động kinh doanh có thể thấy hộ kinh doanh cũng là một chủ thể tìm kiếm lợi nhuận. Qua cách nhìn nhận này có thể thấy những thiếu sót nhất định về khái niệm hộ kinh doanh như sau: Một là, việc cho rằng hộ kinh doanh là tập hợp nhiều người cùng ăn ở chung với nhau tại một địa điểm bởi trên thực tế có những trường hợp chủ hộ 9 kinh doanh là một cá nhân và chỉ có một cá nhân đứng ra hoạt động sản xuất kinh doanh theo quy các quy định pháp luật.
Hai là, cách nhìn nhận vẫn chưa tồn tại một sự tự do nhất định của hộ kinh doanh như việc đề cập đến năng lực trong hoạt động kinh doanh và chế độ trách nhiệm. Qua đây, cách nhìn dưới phương diện từ ngữ về hộ kinh doanh chỉ cung cấp một cách khái quát về khái niệm này mà vẫn chưa làm rõ những yếu tố mang tính chất nội tại của vấn đề và còn nhiều thiếu sót cho người nghiên cứu. Xét về phương diện nghiên cứu lý luận, trích dẫn Giáo trình Pháp luật về chủ thể kinh doanh (2016), Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, Nxb. Hồng Đức, trang 100: “Hộ kinh doanh là đơn vị quy mô nhỏ,không phải là doanh nghiệp nhưng cũng được thành lập đăng kí kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm tiến hành hoạt động kinh doanh”.
Dưới góc độ nhìn nhận này có thể thấy được người nghiên cứu đã đặt ra sự so sánh về quy mô và đánh giá hộ kinh doanh là một đơn vị có quy mô nhỏ đồng thời để có sự tách biệtkhái niệm đã đề cập đến việc hộ kinh doanh không phải là doanh nghiệp để cho người nghiên cứu có nhìn nhận đúng đắn hơn, nhưng việc xác định hộ kinh doanh có quy mô nhỏ nhưng lại không đưa ra được yếu tố định lượng về mức độ để xét quy mô như các yếu tố về vốn, tài sản hay số lượng lao động sử dụng. Bên cạnh đó khái niệm đã dựa trên các căn cứ pháp luật để xác định hộ kinh doanh là đối tượng đăng kí theo quy định để tiến hành các hoạt động kinh doanh, vì khi căn cứ trên thực tế dễ dàng nhận thấy rằng nhiều “hộ gia đình” tiến hành hoạt động kinh doanh mang bản chất của hộ kinh doanh nhưng không tiến hành đăng kí hay không đủ điểu kiện thì vẫn không được xem là hộ kinh doanh. 10 Xét về góc độ lịch sử lập pháp của nước ta có thể thấy có thể khái niệm “hộ kinh doanh” không gọi thống nhất ngay từ đầu mà mỗi thời kì thì khái niệm này lại có những tên gọi khác nhau. Đặc biệt, Hiến pháp 1992 ghi nhận về quyền tự do kinh doanh của công dân Việt Nam là một bước ngoặt lớn cho sự ra đời, phát triển kinh tế tư nhân, trong đó có mô hình cá nhân kinh doanh.
Mô hình này thời điểm đó có mục tiêu quan trọng nhằm xóa đói, giảm nghèo và được gọi với những tên khác nhau tùy theo điều kiện kinh tế-xã hội qua các thời kỳ, như: Tổ chức tiểu sản xuất hàng hóa, hộ cá thể, hộ tiểu công nghiệp, hộ kinh doanh cá thể, hộ kinh doanh. Dưới mỗi thời kì mỗi góc độ thì có những cách gọi khác nhau tuy nhiên về bản chất của hộ kinh doanh thì không có sự thay đổi. Luật Doanh nghiệp 1999 và các Nghị định số 02/2000/NĐ-CP ngày 03/2/2000 và Nghị định số 109/2004/ NĐ-CP ngày 02/4/2004 về đăng ký kinh doanh đã quy định Hộ kinh doanh tồn tại như hình thức kinh tế sản xuất hàng hóa nhỏ gia đình (gồm các thợ thủ công, người làm dịch vụ nhỏ) được phép kinh doanh sau khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy môn bài; tuy nhiên không được phép thuê lao động thường xuyên (sau đó đã bãi bỏ). Luật Doanh nghiệp 2005 được ra đời nhằm giải quyết những khúc mắc cũng như dần hoàn thiện các quy định của loại hình doanh nghiệp cũng không đề cập đến khái niệm hộ kinh doanh nhưng lại có đề cập tại khoản 4, Điều 170: “Hộ kinh doanh sử dụng thường xuyên từ mười lao động trở lên phải đăng ký thành lập doanh nghiệp” tức là đã gián tiếp thừa nhận rằng hộ kinh doanh là các cơ sở kinh doanh có quy mô sử dụng lao động thường xuyên dưới mười người và đối với các hộ kinh doanh sử dụng từ mười lao động trở lên phải chuyển đổi loại hình sang doanh nghiệp.
Tại khoản 1, Điều 36 Nghị định số 88/2006/NĐ-CP ngày 29/8/2006 của Chính phủ về đăng kí kinh doanh đã đưa ra khái niệm về hộ kinh doanh như sau “Hộ kinh doanh 11 do một cá nhân là công dân Việt Nam hoặc một nhóm người hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng không quá mười lao động, không có con dấu và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh”. Luật Doanh nghiệp 2014 của Quốc Hội ra đời ngày 26 tháng 11 năm 2014 và Nghị định số 78/2015/NĐ-CP của Chính phủ về đăng kí kinh doanh ngày 14 tháng 9 năm 2015 là cuộc cách mạng lớn trong thủ tục thành lập doanh nghiệp nói chung trong đó có hộ kinh doanh. Khoản 1, điều 66, Nghị định số 78/2015/NĐ-CP quy đinh: “Hộ kinh doanh do một cá nhân hoặc một nhóm người gồm các cá nhân là công dân Việt Nam đủ 18 tuổi, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng dưới mười lao động và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh.” Định nghĩa trên về “hộ kinh doanh” cho thấy hộ kinh doanh được chia thành ba loại căn cứ vào chủ thể tạo lập ra nó: (1) Hộ kinh doanh do một cá nhân làm chủ; (2) Hộ kinh doanh do một nhóm người làm chủ; (3) Hộ kinh doanh do hộ gia đình làm chủ. Đối với nhóm chủ thể là “cá nhân” khi thành lập hộ kinh doanh ở nước ta hiện nay được gắn với yếu tố quốc tịch tức là pháp luật nước ta chỉ thừa nhận rằng hộ kinh doanh là một chủ thể kinh doanh nhưng chỉ được áp dụng cho đối tượng là công dân Việt Nam cũng như các đối tượng là các nhà đầu tư nước ngoài khi tiên hành kinh doanh ở nước ta phải lựa chọn hình thức khác mà pháp luật về Doanh nghiệp cũng như Luật Đầu tư yêu cầu.