ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT HOÀNG THANH THÚY PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP PHÁT SINH TỪ HỢP ĐỒNG BẢO ĐẢM TIỀN VAY TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI Ở VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC Chuyên ngành: LUẬT KINH TẾ MÃ SỐ: 60 38 50 Giáo viên hƣớng dẫn: TS. NGUYỄN THỊ LAN HƢƠNG HÀ NỘI – NĂM 2010 LỜI CẢM ƠN Trước hết em xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn dến các thầy giáo, cô giáo trong Khoa Luật trường Đại học quốc gia Hà Nội, các phòng ban, thư viện trong và ngoài nhà trường cùng toàn thể bạn bè và người thân đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong suốt quá trình hoàn thiện luận văn. Đặc biệt, em xin gửi lòi cảm ơn chân thành và sâu sắc đến cô giáo – Tiến sĩ Nguyễn Thị Lan Hương đã tận tình động viên, hướng dẫn và giúp đỡ em hoàn thành luận văn tốt nghiệp này. 1 MỤC LỤC LỜI NÓI ĐẦU Tr.
CHƢƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÁC BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM TIỀN VAY VÀ TRANH CHẤP PHÁT SINH TỪ HỢP ĐỒNG BẢO TIỀN VAY TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI Ở VIỆT NAM……………………………………………………11 1. Khái niệm và vai trò của bảo đảm tiền vay. Khái niệm bảo đảm tiền vay………………. Vai trò bảo đảm tiề n vay trong hoạt động của ngân hàng thƣơng mại ….
Các biện pháp bảo đảm tiền vay bằng tài sản. Bảo đảm tiền vay bằng tài sản thế chấp. Bảo đảm tiền vay bằng tài sản cầm cố. Bảo đảm tiền vay bằng tài sản của ngƣời thứ ba.
Bảo đảm tiền vay bằng tài sản hình thành từ vốn vay. Tranh chấp phát sinh từ hợp đồng bảo đảm tiền vay……………. Khái niệm tranh chấp phát sinh từ hợp đồng bảo đảm tiền vay bằng tài sản. Một số đặc trƣng trong quan hệ tranh chấp.
Phƣơng thức giải quyết tranh chấp.42 CHƢƠNG II: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP PHÁT SINH TỪ HỢP ĐỒNG BẢO ĐẢM TIỀN VAY VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ…. Thực trạng pháp luật về giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng bảo đảm tiền vay. Về biện pháp bảo đảm tiền vay bằng thế chấp. Về biện pháp bảo đảm tiền vay bằng cầm cố.
Về biện pháp bảo đảm tiền vay bằng tài sản của ngƣời thứ ba. Về biện pháp bảo đảm tiền vay bằng tài sản hình thành từ vốn vay. Một số tồn tại khác. Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả xử lý những tranh chấp phát sinh từ hợp đồng bảo đảm tiền vay.
Cơ sở của việc đƣa ra các kiến nghị……………………………………………. Một số kiến nghị cụ thể…………………………………………………………. Về bảo đảm nghĩa vụ bằng tài sản hình thành từ vốn vay……………. Về bảo đảm tiền vay bằng tài sản thế chấp của khách hàng vay …….
Về tài sản thế chấp để bảo đảm giá trị khoản vay là quyền sử dụng đất. Về quyền xử lý tài sản bảo đảm. Nâng cao hiệu quả thực thi công tác giải quyết của Toà án………………….Hoàn chỉnh khung pháp lý để chuyển bất động sản thành vốn đầu tƣ ……….82 3 BẢNG KÝ HIỆU CHỮ VIẾT TẮT DNNN: Doanh nghiệp Nhà nước NHTM: Ngân hàng thương mại TCTD: Tổ chức tín dụng QSDĐ: Quyền sử dụng đất GCNQSDĐ: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất BĐS: Bất động sản BĐTV: Bảo đảm tiền vay TSBĐ: Tài sản bảo đảm BLDS: Bộ luật dân sự BLTTDS: Bộ luật tổ tụng dân sự TAND: Tòa án nhân dân TANDTC: Tòa án nhân dân tối cao UBND: Ủy ban nhân dân 4 LỜI NÓI ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Tổ chức tín dụng nói chung và ngân hàng thương mại nói riêng là các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán.
Vai trò của các tổ chức tín dụng trong việc thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng dài hạn đã và đang thu hút nhiều sự quan tâm cũng như nhiều ý kiến, quan điểm khác nhau của các nhà kinh tế, tài chính. Tuy nhiên, có một điều không thể phủ nhận rằng, ở tất cả các nền kinh tế, dù phát triển hay đang phát triển, dù mạnh hay yếu thì các tổ chức tín dụng luôn có một vai trò quan trọng không thể thay thế trong việc bình ổn thị trường kinh tế, giữ vững sự ổn định của thị trường tài chính tiền tệ quốc gia - những yếu tố mang tính quyết định đến sự phát triển của đất nước. Một nền kinh tế có các tổ chức tín dụng lớn mạnh có thể thúc đẩy sự tăng trưởng dài hạn của kinh tế đất nước, đổi mới khoa học công nghệ thông qua các kênh cung cấp tài chính cho các doanh nghiệp và cộng đồng dân cư; nó không chỉ giới hạn ở chức năng huy động các nguồn vốn trong nước mà còn có chức năng rất lớn trong việc thu hút và nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn vốn huy động bên ngoài nền kinh tế. Không chỉ là các kênh huy động vốn quan trọng đáp ứng nhu cầu tăng trưởng của nền kinh tế mà các tổ chức tín dụng còn có chức năng giảm thiểu rủi ro tài chính thông qua việc cung cấp thông tin và tư vấn cho các nhà đầu tư.
Ở tất cả các quốc gia, các tổ chức tín dụng đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với việc phát triển kinh tế xã hội. Chính vì vậy, ngay trong điều kiện nước nhà mới độc lập và thực hiện công cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Đảng và Nhà nước đã quan tâm đến việc xây dựng hệ thống các Tổ chức tín dụng của chế độ mới. Nền kinh tế Việt Nam trong những năm gần đây luôn đạt tốc độ tăng trưởng 5 cao so với khu vực. Với mức độ tăng trưởng như hiện nay, nhu cầu vốn cho nền kinh tế là hết sức lớn.
Trong điều kiện hiện nay, đầu tư nước ngoài chưa đạt được mức kế hoạch, ngược lại ở nhiều nơi còn có dấu hiệu giảm sút thì chủ trương dựa vào nguồn vốn trong nước đang được thực hiện triệt để. Tuy nhiên, các kênh huy động vốn từ nội lực kinh tế còn hẹp. Thị trường chứng khoán Việt Nam mới được hình thành và chưa thật sự trở thành kênh cung cấp vốn hiệu quả cho nền kinh tế. Thực tế cho thấy phần lớn các doanh nghiệp Việt Nam năng lực tài chính còn yếu kém, hoạt động chủ yếu dựa trên nguồn vốn vay từ các Tổ chức tín dụng.
Đi kèm với vai trò là một kênh cung cấp vốn quan trọng của nền kinh tế Việt Nam, thực tế đang đặt ra cho các ngân hàng thương mại ở Việt Nam không ít khó khăn trong hoạt động cho vay – một hình thức cung cấp vốn chủ yếu và giải quyết các tranh chấp thực tế phát sinh từ các hợp đồng bảo đảm tiền vay vốn đã nhiều phức tạp trên cả hai bình diện: lý luận pháp luật và thực tiễn. Để có một nền kinh tế ổn định, đòi hỏi quốc gia phải có hệ thống ngân hàng vững mạnh. Muốn vậy, Chính phủ phải thiết lập được hệ thống pháp luật chặt chẽ để đảm bảo được hành lang an toàn cho hoạt động của hệ thống ngân hàng. Chính vì vậy, việc nghiên cứu những quy định của pháp luật cũng như thực tế áp dụng các quy định của pháp luật về hợp đồng bảo đảm tiền vay và giải quyết tranh chấp phát sinh từ các hợp đồng đó bằng cơ chế tài phán là hết sức cần thiết trong giai đoạn hiện nay.
Và trên cơ sở đó, có thể đề ra những phương hướng hoàn thiện có ý nghĩa thiết thực. Đây cũng là lý do học viên chọn đề tài “Pháp luật về giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng bảo đảm tiền vay tại ngân hàng thƣơng mại ở Việt Nam” làm luận văn tốt nghiệp của mình. Tình hình nghiên cứu Trong thời gian quan, vấn đề về pháp luật giải quyết tranh chấp phát sinh từ các hợp đồng bảo đảm tiền vay bằng tài sản tại ngân hàng thương mại ở Việt Nam luôn là trung tâm chú ý của các học giả, các chuyên gia, nhà khoa học và thậm chí là các 6 doanh nghịêp trên địa bàn cả nước. Đây là một trong những phạm trù thu hút được nhiều sự quan tâm với nhiều ý kiến, bài phân tích và nhiều công trình khoa học khác nhau để đi đến sự thống nhất trong cách nhìn, cách giải quyết thấu đáo những vướng mắc đang tồn tại cả trong cả lý luận và thực tiễn, như: “Pháp luật điều chỉnh các biện pháp bảo đảm tiền vay bằng tài sản của các tổ chức tín dụng”, đề tài cấp trường, mã số 08/NCKH - KL(10/4/2001), nghiệm thu 3/2002, do Phó giáo sư.Tiến sỹ (PGS.TS) Lê Thị Thu Thuỷ chủ trì; “Pháp luật về các biện pháp bảo đảm tiền vay bằng tài sản - kinh nghiệm các nƣớc và thực tiễn Việt Nam”, đề tài khoa học cấp đặc biệt ĐHQGHN, mã số QG.32, nghiệm thu tháng 12/2005, do PGS.TS Lê Thị Thu Thuỷ chủ trì; “Pháp luật về cầm cố tài sản vay vốn ngân hàng”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 11/2002; “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về pháp luật hợp đồng ở Việt Nam hiện nay”, Nhà xuất bản Công an Nhân dân, tháng 8/2003; “Bảo đảm tiền vay bằng tài sản của các tổ chức tín dụng”, PGS.TS Lê Thị Thu Thuỷ, Tạp chí Khoa học Kinh tế - Luật, số 3/2002….vv Khi tìm hiểu các tài liệu xung quanh vấn đề Pháp luật về giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng bảo đảm tiền vay bằng tài sản tại ngân hàng thương mại ở Việt Nam, có thể nhận thấy có rất nhiều ý kiến khác nhau.
Khác nhau về cách tiếp cận, quan điểm, về phương thức giải quyết tranh chấp, về tác dụng của các biện pháp bảo đảm tiền vay tại ngân hang và các tổ chức tín dụng, về chế tài áp dụng với các tổ chức, cá nhân vi phạm hợp đồng tín dụng…. Và do đó, ngay bản thân vấn đề áp dụng các quy định pháp luật cũng còn tồn tại nhiều quan điểm không đồng nhất. Các công trình nghiên cứu ở nhiều mức độ về vấn đề trên hiện có khá nhiều và được đầu tư ở mức độ đáng kể, tuy nhiên không phải đã hẳn tháo gỡ được hết những vướng mắc còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng pháp luật vốn nhiều thay đổi. Điều đó khẳng định rằng nghiên cứu về các chế định pháp luật liên quan đến việc giải quyết tranh chấp phát sinh từ các hợp đồng bảo đảm tiền vay bằng tài sản ở cả 7 phương diện lý luận và thực tiễn là công việc khó khăn và đòi hỏi sự nỗ lực hơn nữa của các nhà nghiên cứu cũng như các nhà khoa học thuộc các lĩnh vực có liên quan.