Chương 1 MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT CƯỠNG CHẾ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 1. Khái quát chung về cưỡng chế thi hành án dân sự 1. Khái niệm, đặc điểm cưỡng chế thi hành án dân sự Cưỡng chế thi hành án dân sự là biện pháp nghiêm khắc được Chấp hành viên áp dụng trong quá trình tổ chức thi hành án, thể hiện việc cơ quan Thi hành án dân sự sử dụng quyền lực nhà nước để buộc người phải thi hành án thi hành nghĩa vụ mà bản án, quyết định đã tuyên. Trên cơ sở các quy định hiện hành, có thể hiểu rằng, cưỡng chế thi hành án dân sự là biện pháp cưỡng bức bắt buộc của cơ quan Thi hành án dân sự do Chấp hành viên quyết định theo thẩm quyền, nhằm buộc đương sự phải thực hiện những hành vi hoặc nghĩa vụ về tài sản theo bản án, quyết định của tòa án, được áp dụng trong trường hợp người phải thi hành án có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành trong thời hạn do Chấp hành viên ấn định, hoặc trong trường hợp cần ngăn chặn người phải thi hành án tẩu tán, hủy hoại tài sản.
Cụ thể hóa các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự, Điều 71 Luật thi hành án dân sự quy định có 06 biện pháp cưỡng chế thi hành án như sau [57, tr. Khấu trừ tiền trong tài khoản; thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của người phải thi hành án. Trừ vào thu nhập của người phải thi hành án. Kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ.
Khai thác tài sản của người phải thi hành án. Buộc chuyển giao vật, chuyển giao quyền tài sản, giấy tờ. Buộc người phải thi hành án thực hiện hoặc không được thực hiện công việc nhất định. Từ các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự đã được quy định, có thể thấy chúng có những đặc điểm sau đây: Thứ nhất, biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự thể hiện quyền năng đặc biệt của Nhà nước và được đảm bảo thực hiện bằng sức mạnh Nhà nước.
Biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự phải do cơ quan Thi hành án dân sự thực hiện (bao gồm cơ quan Thi hành án dân sự cấp tỉnh, cơ quan Thi hành án dân sự cấp huyện, cơ quan thi hành án quân khu và tương đương). Thứ hai, biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự được Chấp hành viên áp dụng trong trường hợp người phải thi hành án không tự nguyện thi hành án nhằm buộc họ phải thực hiện nghĩa vụ của mình theo bản án, quyết định. Thứ ba, đối tượng của biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự là tài sản hoặc hành vi của người phải thi hành án. Thứ tư, khi áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự, người bị áp dụng ngoài việc phải thực hiện các nghĩa vụ trong bản án, quyết định do tòa án tuyên, họ còn phải chịu mọi chi phí cưỡng chế thi hành án dân sự.
Thứ năm, các biện pháp cưỡng chế được Chấp hành viên quyết định áp dụng không những có hiệu lực đối với người phải thi hành án dân sự mà còn có hiệu lực đối với cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan. Cưỡng chế thi hành án dân sự là một biện pháp nghiêm khắc nhất, do đó, Chấp hành viên trong quá trình tổ chức thi hành án không được áp dụng một cách tùy tiện mà phải tuân thủ những nguyên tắc nhất định đó là Thứ nhất, chỉ áp dụng các biện pháp cưỡng chế được pháp luật quy định. Thứ hai, chỉ được áp dụng biện pháp cưỡng chế sau khi đã hết thời hạn tự nguyện thi hành án trừ trường hợp cần ngăn chặn người phải thi hành án có 9 hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản hoặc trốn tránh nghĩa vụ thi hành án. Ngoài ra, cơ quan thi hành án dân sự không không tổ chức cưỡng chế thi hành án có huy động lực lượng trong thời gian 15 ngày trước và sau tết Nguyên đán; các ngày truyền thống đối với các đối tượng chính sách, nếu họ là người phải thi hành án.
Thứ ba, việc áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án phải tương ứng với nghĩa vụ của người phải thi hành án và các chi phí cần thiết, trừ trường hợp người phải thi hành án tự nguyện đề nghị kê biên tài sản cụ thể trong số nhiều tài sản mà không gây trở ngại cho việc thi hành án và tài sản đó đủ để thi hành án, các chi phí liên quan (quy định tại Khoản Điều 2 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ) [26, tr. Trường hợp người phải thi hành án chỉ có một tài sản duy nhất lớn hơn nhiều lần so với nghĩa vụ phải thi hành án mà tài sản đó không thể phân chia được hoặc việc phân chia làm giảm đáng kể giá trị của tài sản thì Chấp hành viên vẫn có quyền áp dụng biện pháp bảo đảm, cưỡng chế để thi hành án (khoản 1, Điều 13 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ) [26, tr. Thứ tư, việc áp dụng biện pháp cưỡng chế phải căn cứ vào bản án, quyết định và từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể. Nguyên tắc này đòi hỏi rất cao về mặt chuyên môn nghiệp vụ của Chấp hành viên, bản lĩnh nghề nghiệp và đạo đức Chấp hành viên.
Vì việc tổ chức cưỡng chế thi hành án có thuận lợi hay không, an toàn hay không và có ảnh hưởng đến tình hình an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội tại địa bản xảy ra việc cưỡng chế hay không tùy thuộc vào việc có áp dụng thống nhất nguyên tắc này trên thực tế của Chấp hành viên. Vai trò của cưỡng chế thi hành án dân sự Nhà nước khuyến khích đương sự tự nguyện thi hành án. Trong tổ chức thi hành án, Chấp hành viên chú trọng tuyên truyền, giáo dục, giải thích, hướng dẫn, động viên người phải thi hành án tự giác, tự nguyện thi hành nghia vụ của mình, nhằm tạo ra ý thức về lối sống cộng đồng, ý thức pháp 10 luật của mỗi công dân, tạo ra thói quen sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật. Tuy nhiên, nếu người phải thi hành án có điều kiện thi hành án nhưng không tự nguyện thi hành thì bị cưỡng chế thi hành án theo quy định.
Việc áp dụng biện pháp cưỡng chế là cần thiết, đảm bảo vì lợi ích hợp pháp của người được thi hành án, giữ nghiêm kỷ cương phap luật chung của nhân dân, xã hội, nhà nước, trong đó có cả lợi ích cá nhân. Không áp dụng cưỡng chế, hay coi nhẹ nó cũng có nghĩa là buông nhẹ kỷ cương dẫn tới tình trạng vô Chính phủ, vô kỷ luật trong xã hội và trong bộ máy nhà nước. Điều quan trọng là, không được lạm dụng sử dụng biện pháp cưỡng chế để giải quyết toàn bộ các việc thi hành án, điều đó sẽ dẫn đến sự chuyên quyền, không đúng với bản chất nhà nước của nhân dân, do dân và vì dân. Pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự 1.
Khái niệm Pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự là các quy định của pháp luật quy định về vấn đề cưỡng chế thi hành án dân sự. Các quy định này được cụ thể hóa trong Luật Thi hành án dân sự và các văn bản hướng dẫn thi hành (các Nghị định, Thông tư và các văn bản hướng dẫn chuyên ngành). Các quy định này nêu rõ những hình thức, biện pháp, cách thức, thủ tục thực hiện việc cưỡng chế; quy định rõ ai là người có thẩm quyền được áp dụng biện pháp cưỡng chế, chủ thể bị cưỡng chế là ai, đối tượng bị cưỡng chế là gì, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức và cá nhân trong thực hiện tổ chức cưỡng chế thi hành án dân sự. Có thể hiểu rằng, pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự là tập hợp các chế định được về cưỡng chế thi hành án dân sự được nhà nước quy định cụ thể về cách thức sử dụng và hình thức sử dụng pháp luật để xử lý tài sản của người phải thi hành án hoặc bắt buộc người phải thi hành án thực hiện nghĩa vụ của mình theo nội dung Bản án, quyết định đã tuyên.2 Vai trò 11 Pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự có vai trò hết sức quan trọng, là cơ sở để thiết lập, củng cố và tăng cường quyền lực nhà nước, quy định nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Chấp hành viên và của các tổ chức, cá nhân có liên quan trong thực hiện cưỡng chế thi hành án dân sự.
Thông qua các quy định về cưỡng chế thi hành án dân sự, Nhà nước xác định rõ quyền lực của nhà nước bằng việc, cho phép cơ quan Thi hành án dân sự áp dụng các biện pháp bảo đảm, các biện pháp cưỡng chế, xử phạt vi phạm hành chính, thậm chí là đề nghị truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các hành vi chống đối, các hành vi vi phạm các quy định về thi hành án dân sự. Pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự xác định rõ các quyền năng của cơ quan nhà nước, của cơ quan Thi hành án dân sự và của Chấp hành viên trong việc buộc người phải thi hành án phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình theo nội dung Bản án, quyết định đã tuyên, nhằm đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, bảo đảm và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nhà nước và của công dân. Pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự còn là phương tiện để nhà nước quản lý xã hội, triển khai những chủ trương, chính sách của nhà nước một cách đồng bộ và có hiệu quả nhất trên quy mô cả nước, đồng thời đó cũng là phương tiện để nhà nước kiểm soát các hoạt động của Chấp hành viên, của các tổ chức, các cơ quan và mọi công dân trong cưỡng chế thi hành án dân sự.