Chương I: Một số vấn đề lý luận về biện pháp bảo đẩm bằng các giấy tờ có giá trong hoạt động cho vay của ngân hàng thƣơng mại. Chương II: Thực trạng pháp luật về biện pháp bảo đảm bằng các giấy tờ có giá trong hoạt động cho vay của các ngân hàng thƣơng mại ở Việt Nam. Chương III: Các giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả bảo đảm tiền vay bằng giấy tờ có giá của NHTM ở Việt Nam 9 Chƣơng I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM BẰNG CÁC GIẤY TỜ CÓ GIÁ TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI.Khái niệm, đặc điểm, bảo đảm tiền vay trong hoạt động cho vay của NHTM. Khái niệm bảo đảm tiền vay Theo nghĩa rộng, bảo đảm tiền vay là việc thiết lập các điều kiện nhằm xác định khả năng thực có của khách hàng đối với việc hoàn trả vốn vay đúng thời hạn [32,Tr 43].
Với cách hiểu này, bảo đảm tiền vay không chỉ đơn thuần và duy nhất là cho vay phải có tài sản để thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh mà cần hiểu nó theo nghĩa rộng. Hay nói cách khác, bảo đảm tiền vay “là hàng loạt các giải pháp nhằm mục đích thực hiện cho được yêu cầu buộc vốn cho vay ra phải được quay về với người cho vay sau một chu kỳ nhất định với đầy đủ cả gốc và lãi”[32, Tr44]. Điều này có nghĩa, ngoài các biện pháp cụ thể như cầm cố, bảo lãnh, thế chấp…được áp dụng để đảm bảo thu hồi khoản vay thì các tổ chức tín dụng phải áp dụng các biện pháp tổng thể mang tính nghiệp vụ, các công cụ phân tích tài chính- tín dụng, xem xét tính khả thi của dự án, mục đích của người vay, khả năng tài chính hiện tại và trong tương lai của khách hàng vay…nhằm đảm bảo cho các khoản vay có được sự an toàn cao nhất trong khả năng thu hồi nợ. Theo nghĩa hẹp, bảo đảm tiền vay là những biện pháp bảo đảm việc trả nợ vốn vay (cầm cố, thế chấp bằng tài sản của khách hàng vay, bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba, cầm cố, thế chấp bằng tài sản hình thành từ vốn vay).
Hiểu theo nghĩa này, bảo đảm tiền vay bao gồm các biện pháp bảo đảm thuộc phạm trù chủ quan, thể hiện ở chỗ: do các chủ thể thoả thuận thiết lập, áp dụng dựa trên các quy định của pháp luật về biện pháp bảo đảm nói chung và bảo 10 đảm tiền vay nói riêng, để tạo sự yên tâm cho nhau trong quan hệ nghĩa vụ, có tác dụng dự phòng đối với những hành vi không hợp pháp, tạo cơ sở kinh tế khắc phục thiệt hại vật chất của bên bị thiệt hại. Nói cách khác, bảo đảm tiền vay là sự thoả thuận của người đi vay và người cho vay dựa trên các quy định của Nhà nước nhằm thiết lập các biện pháp tác động mang tính chất dự phòng để đảm bảo việc trả nợ vốn vay, ngăn ngừa vi phạm và tạo khả năng khắc phục những hậu quả do vi phạm nghĩa vụ trả nợ gây ra. Đặc điểm của bảo đảm tiền vay. Qua định nghĩa về bảo đảm tiền vay cả trên phương diện nghĩa rộng và nghĩa hẹp, bảo đảm tiền vay có một số đặc điểm sau: - Bảo đảm tiền vay là các biện pháp phòng ngừa rủi ro.
Đặc điểm này cũng được xem như là mục đích của việc áp dụng các biện pháp bảo đảm tiền vay, bởi lẽ các biện pháp bảo đảm tiền vay chính là các bảo đảm cho các tổ chức tín dụng có khả năng thu hồi được các khoản nợ đã cho khách hàng vay. Việc xử lý tài sản bảo đảm tiền vay không phải là cái đích mà các bên hướng tới, song, trong điều kiện nền kinh tế thị trường của nước ta hiện nay thì có lẽ đây là biện pháp hữu hiệu nhất để phòng ngừa rủi ro và bảo toàn vốn vay của các TCTD. - Bảo đảm tiền vay tạo cơ sở kinh tế và pháp lý để thu hồi các khoản nợ đã cho khách hàng vay. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, hoạt động kinh doanh luôn gắn liền với yếu tố rủi ro và rủi ro trong hoạt động kinh doanh của khách hàng vay vốn chính là một trong các nguyên nhân dẫn đến việc các TCTD không thu hồi được các khoản nợ đã cho vay.
Trong trường hợp khách hàng rơi vào tình trạng mất khả năng chi trả, mất khả năng thanh toán, ngân hàng có thể tránh được mọi hậu quả liên quan đến việc phá sản của khách hàng thông qua tài sản bảo đảm tiền vay. Nếu một khoản vay không có bảo đảm thì trong trường hợp khách hàng không trả nợ khi đến thời hạn đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng, ngân hàng sẽ đứng 11 chung hàng với các chủ nợ không có bảo đảm khác và việc thu hồi các khoản nợ là rất khó khăn. Ngoài ra, nhờ có bảo đảm tiền vay mà ngân hàng có thể thu hồi vốn mà không phụ thuộc vào khách hàng có ý định thực hiện nghĩa vụ trả nợ hay không. Do vậy, vấn đề đặt ra là cần phải áp dụng biện pháp nào đó để TCTD có thể thu hồi được các khoản nợ đã cho vay trong mọi trường hợp và bảo đảm tiền vay chính là để nhằm mục đích này.Khái niệm, đặc điểm của giấy tờ có giá và bảo đảm tiền vay bằng giấy tờ có giá.Khái niệm giấy tờ có giá.
Pháp luật Việt Nam hiện hành chưa có một quy định thống nhất nào về giấy tờ có giá. Giấy tờ có giá nói chung, được hiểu là chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ, trong đó xác nhận quyền tài sản của một chủ thể nhất định (tổ chức, cá nhân) xét trong mối quan hệ pháp lý với các chủ thể khác[ ]. Đối với hoạt động huy động vốn của các ngân hàng, khái niệm giấy tờ có giá được hiểu theo nghĩa rất hẹp, chỉ bao gồm các phiếu nợ do ngân hàng phát hành dưới dạng chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ, trong đó xác nhận quyền chủ nợ của người sở hữu phiếu nợ và nghĩa vụ trả một số tiền nhất định của ngân hàng phát hành vào một thời điểm xác định ghi trên phiếu nợ. Điều 4 Quyết định 07/2008/QĐ- NHNN ngày 24/3/2008 của Ngân hàng nhà nước ban hành Quy chế phát hành giấy tờ có giá trong nước của tổ chức tín dụng, quy định: “Giấy tờ có giá” là chứng nhận của tổ chức tín dụng phát hành để huy động vốn trong đó xác nhận nghĩa vụ trả nợ một khoản tiền trong một thời hạn nhât định, điều kiện trả lãi và các điều khoản cam kết khác giữa tổ chức tín dụng và người mua”.
Tại điều 5 Quy chế chiết khấu, tái chiết khấu giấy tờ có giá của TCTD đối với khách hàng vay ban hành kèm theo Quyết định số 1325/2004/QĐ- NHNN ngày 15/10/2004 của Thống đốc Ngân hàng nhà nước (đã được sửa đổi, bổ sung, theo 12 Quyết định số 17/2006/QĐ-NHNN ngày 20/4/2006 của NHNN, quy định: Các loại giấy tờ có giá được tổ chức tín dụng lựa chọn chiết khấu, tái chiết khấu bao gồm: 1.Các giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng phát hành theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng và hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.Tín phiếu Ngân hàng Nhà nước phát hành theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.Các loại trái phiếu được phát hành theo quy định của Chính phủ và hướng dẫn của Bộ Tài chính, bao gồm: Tín phiếu kho bạc; Trái phiếu kho bạc; Trái phiếu công trình trung ương; Trái phiếu đầu tư; Trái phiếu ngoại tệ; Công trái xây dựng tổ quốc; Trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh; Trái phiếu chính quyền địa phương.Các tín phiếu, kỳ phiếu, trái phiếu do tổ chức khác phát hành và đươc chiết khấu, tái chiết khấu theo quy định của pháp luật. Theo Khoản 9, Điều 3 Nghị định 163/2006/NĐ- CP ngày 29/12/2006 về giao dịch bảo đảm: “Giấy tờ có giá bao gồm cổ phiếu, trái phiếu, hối phiếu, kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi, séc, giấy tờ có giá khác theo quy định của pháp luật, trị giá được thành tiền và được phép giao dịch”. Trong thực tế giấy tờ có giá cũng chỉ được hiều một cách chung chung, trong quy định về cho vay cầm cố giấy tờ có giá của các NHTM cũng không có khái niệm thống nhất về giấy tờ có giá mà chỉ quy định các loại giấy tờ có giá, như theo quy định về cầm cố giấy tờ có giá của Ngân Hàng MHB ,các loại giấy tờ có giá được cầm cố gồm : Trái phiếu Chính phủ: Tín phiếu kho bạc, trái phiếu kho bạc, trái phiếu công trình Trung ương, trái phiếu ngoại tệ, công trái xây dựng Tổ quốc. Tín phiếu Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
13 Các giấy tờ có giá do MHB và các ngân hàng thương mại quốc doanh khác (kể cả các công ty chứng khoán của các Ngân hàng Thương mại quốc doanh), hoặc các công ty tài chính của các tổng công ty nhà nước phát hành gồm: Trái phiếu, kỳ phiếu, sổ tiết kiệm, chứng chỉ tiền gửi … Giấy tờ có giá do tiết kiệm bưu điện phát hành. Các giấy tờ có giá khác do Tổng Giám đốc MHB quy định trong từng thời kỳ. Như vậy, pháp luật nước ta và trong thực tế hoạt động của các tổ chức tài chính chưa đưa ra được một định nghĩa thống nhất nào về giấy tờ có giá, mà chỉ quy định theo hướng liệt kê các loại giấy tờ nào được coi là giấy tờ có giá. Thông qua các quy định nói trên, có thể hiểu một cách khái quát nhất: “Giấy tờ có giá là các loại giấy tờ xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu giấy tờ đó, có thể định giá được bằng tiền và được phép sử dụng trong các giao dịch dân sự”.Đặc điểm của giấy tờ có giá: Giấy tờ có giá có 3 đặc điểm: - Xác nhận quyền tài sản của một chủ thể nhất định.
- Trị giá được bằng tiền. - Có thể chuyển giao quyền sở hữu cho chủ thể khác trong giao lưu dân sự. Các loại giấy tờ có giá. Xét trên khía cạnh thời hạn của các loại giấy tờ có giá, có thể chia chúng thành hai loại: giấy tờ có giá ngắn hạn và giấy tờ có giá dài hạn.
Giấy tờ có giá ngắn hạn: 14 Theo quy định tại Khoản 2 Điều 4 Quy chế phát hành giấy tờ có giá: Giấy tờ có giá ngắn hạn là giấy tờ có thời hạn dưới một năm bao gồm kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn, tín phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác.