Chương 1: Những vấn đề chung Chúng tôi trình bày những vấn đề chung về giao tiếp và lí thuyết hội thoại làm cơ sở định hướng nghiên cứu hội thoại trong Sử thi Đăm Săn. Chương 2: Cấu trúc hội thoại trong Sử thi Đăm Săn Trong chương này, chúng tôi miêu tả đặc điểm của các thành phần trong cấu trúc hội thoại. Dựa vào kết quả khảo sát và thống kê ngữ liệu trong Sử thi Đăm Săn, chúng tôi rút ra những đặc điểm trong cấu trúc của cuộc thoại, đoạn thoại, cặp thoại, nghĩa tường minh và nghĩa hàm ẩn. Chương 3: Hình thức hội thoại trong Sử thi Đăm Săn Chúng tôi phân tích các hình thức liên kết hội thoại; từ đó đánh giá những biểu hiện văn hóa giao tiếp của người Ê-đê qua hội thoại trong Sử thi Đăm Săn.
Dựa trên cơ sở của lí thuyết hội thoại, chúng tôi vận dụng để phân tích đoạn trích “Chiến thắng Mtao Mxây” trong chương trình Ngữ văn ở trường THPT. e 6 Chƣơng 1 - NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1. Giao tiếp và quá trình giao tiếp 1. Khái niệm giao tiếp Giao tiếp là một quá trình trong đó các bên tham gia tạo ra hoặc chia sẻ thông tin, cảm xúc với nhau nhằm đạt được mục đích giao tiếp.
Tác giả Nguyễn Như Ý đã định nghĩa: “Giao tiếp là sự thông báo hay truyền đạt thông báo nhờ một hệ thống mã nào đó” [39;101]. Để duy trì quá trình giao tiếp, con người cần sử dụng phương tiện giao tiếp, bao gồm: ngôn ngữ và phi ngôn ngữ. Cả hai phương tiện giao tiếp này đều quan trọng và hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình giao tiếp: với các mối quan hệ gần gũi thì giao tiếp phi ngôn ngữ được sử dụng nhiều hơn, còn trong các mối quan hệ xã giao thì giao tiếp phi ngôn ngữ thường làm nền cho giao tiếp ngôn ngữ. Quá trình giao tiếp Quá trình giao tiếp được hiểu là sự mã hóa thông điệp của người nói (Sp1), sau đó gửi đến người nghe (Sp2).
Sp2 sẽ giải mã và phản hồi thông tin theo quan điểm của họ. Thông điệp khi mã hóa phải rõ ràng, súc tích, chính xác, liên quan đến người nhận, kịp thời và có ý nghĩa, phù hợp với tình huống. Quá trình giao tiếp được thể hiện cụ thể qua sơ đồ sau: Hoàn cảnh giao tiếp Người gửi Thông điệp Người nhận e 7 Từ mô hình trên ta thấy, để có thể giao tiếp, con người phải có những mối quan hệ nhất định với nhau, đó là quan hệ giao tiếp. “Quan hệ giao tiếp được xây dựng trên hệ thống các mối quan hệ xã hội nói chung, trên cấu trúc xã hội đó và trên các quan hệ giữa các giai cấp, tầng lớp, hoặc nhóm người trong xã hội đó” [39;102].
Vì vậy, muốn quá trình giao tiếp đạt hiệu quả cần đảm bảo các yếu tố sau: nhân vật giao tiếp (người gửi và người nhận), nội dung giao tiếp (thông điệp), hoàn cảnh giao tiếp (môi trường giao tiếp rộng và hẹp), phương tiện giao tiếp (hệ thống tín hiệu ngôn ngữ hoặc phi ngôn ngữ), mục đích giao tiếp (mong muốn của người gửi). Nhân vật giao tiếp là “những người tham gia vào quá trình giao tiếp” [15;213]; trong vai người nói (người viết) hoặc người nghe (người đọc). Trong hội thoại giữa các nhân vật giao tiếp thường có sự đổi vai và luân phiên lượt lời với nhau. Nội dung giao tiếp là “hiện thực, thực tế khách quan (bao gồm cả thế giới hiện thực, thế giới tưởng tượng; bao gồm cả đời sống vật chất và đời sống tinh thần) được các nhân vật giao tiếp đưa vào cuộc giao tiếp”.
Bao gồm hoàn cảnh giao tiếp hẹp (thời gian, không gian diễn ra cuộc giao tiếp) và hoàn cảnh giao tiếp rộng (hoàn cảnh lịch sử, kinh tế, văn hóa. của dân tộc, của đất nước). Phương tiện giao tiếp là “hệ thống tín hiệu mà các nhân vật giao tiếp sử dụng trong quá trình giao tiếp” [15;220]. Đó là tất cả những yếu tố con người dùng để thể hiện thái độ, tình cảm, mối quan hệ và những biểu hiện khác của mình trong quá trình giao tiếp; bao gồm: phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ.
Mục đích giao tiếp là “ý đồ, ý định mà các nhân vật giao tiếp đặt ra trong một cuộc giao tiếp nhất định” [15;222]. Đây là yếu tố quan trọng nhất e 8 trong hoạt động giao tiếp, nó chi phối việc lựa chọn các yếu tố còn lại và toàn bộ cách thức tiến hành giao tiếp. Thông qua hội thoại, các yếu tố trên thực hiện vai trò của mình trong sự kết hợp chặt chẽ với nhau. Cuộc thoại thành công hay thất bại đều phụ thuộc vào sự chi phối của các yếu tố này.
Mội số vấn đề về hội thoại Hội thoại là hoạt động giao tiếp căn bản, thường xuyên, phổ biến trong sự hành chức của ngôn ngữ. Các hình thức hành chức khác của ngôn ngữ đều được giải thích dựa vào hình thức hoạt động căn bản này. Theo tác giả Đỗ Hữu Châu thì “thuật ngữ hội thoại sẽ được dùng cho mọi hình thức hội thoại nói chung (.) và đối thoại cho hình thức hội thoại tích cực mặt đối mặt giữa những người hội thoại.) Trong đối thoại lại có đối thoại tay đôi, đối thoại tay ba, tay tư, nói chung là đa thoại. Kiểu đối thoại tay đôi được gọi là song thoại.
Song thoại là hình thức hội thoại nguyên mẫu của mọi cuộc đối thoại và hội thoại.” [5;540] Từ đó ta thấy, dạng cơ bản của hội thoại là dạng “song thoại” (dialogue) tức là dạng diễn ra giữa hai nhân vật đối đáp. Tuy nhiên hội thoại có thể có dạng tam thoại (ba nhân vật) và nói chung là đa thoại (nhiều nhân vật). Để có cơ sở cụ thể nghiên cứu về hội thoại trong Sử thi Đăm Săn, chúng tôi sử dụng khái niệm hội thoại của tác giả Nguyễn Như Ý: “Hội thoại chính là dạng hoạt động giao tiếp bằng lời ở dạng nói giữa các nhân vật giao tiếp nhằm trao đổi các nội dung miêu tả và liên cá nhân theo đích được đặt ra” [39;122]. Các vận động hội thoại Vận động giao tiếp của ngôn ngữ thông thường bao gồm ba vận động: trao lời, trao đáp và tương tác.
e 9 Khi nói về hội thoại, tác giả Đỗ Hữu Châu: “dùng kí hiệu Sp để chỉ người tham gia vào hội thoại, Sp1 là vai nói, Sp2 là vai nghe. Sp1, Sp2 và Spn. là các đối tác hội thoại” [5;540]. Trao lời: Là vận động người nói Sp1 nói ra và hướng lời nói của mình về phía người nhận Sp2.
Thông thường, Sp1 khác người nhận Sp2 trừ trường hợp độc thoại thì có thể đồng nhất. Cho nên, “Trao lời là vận động mà Sp1 nói lượt lời của mình ra và hướng lượt lời của mình về phía Sp2 nhằm làm cho Sp2 nhận biết được rằng lượt lời được nói ra đó là dành cho Sp2” [5;540] Ví dụ 1: Trong truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao, nhân vật Chí Phèo đã độc thoại nội tâm: “Nhưng tại sao mãi đến tận bây giờ hắn mới nếm mùi vị cháo? Hắn tự hỏi rồi lại tự trả lời: Có ai nấu cho mà ăn đâu? Mà còn ai nấu cho mà ăn nữa!” Có những vận động cơ thể (điệu bộ, cử chỉ, nét mặt) hướng tới người nhận hoặc tự hướng về mình (gãi đầu, gãi tai, đấm ngực…) bổ sung cho lời của người nói. Đây là kiểu hội thoại theo dạng thức phi ngôn ngữ. Đoạn miêu tả Chí Phèo ăn vạ tại nhà Bá Kiến đã cho chúng ta thấy rõ điều này: “Ối làng nước ôi! Cứu tôi với.
Ối làng nước ôi! Bố con thằng Kiến nó đâm chết tôi! Thằng lí Cường nó đâm chết tôi rồi, làng nước ôi!” - kèm theo lời kêu la ấy của Chí là hình ảnh “Chí Phèo lăn lộn dưới đất, vừa kêu vừa lấy mảnh chai cào vào mặt. Máu ra loe loét trông gớm quá!”. Tình thế giao tiếp trao lời ngầm ẩn rằng người nhận Sp2 tất yếu phải có mặt, “đi vào” trong lời của Sp1. Ngay trước khi Sp2 đáp lời, anh ta, ngôi thứ hai, đã được đưa vào trong lời trao của ngôi thứ nhất “tôi” và thường xuyên kiểm tra, điều hành lời nói của Sp1.
Cũng chính vì vậy, ở phía người nói, người trao lời, nói năng có nghĩa là “lấn trước” vào người nghe Sp2, phải dự e 10 kiến trước phản ứng của người nghe để chọn lời cho thích hợp, để làm sao cho có thể “áp đặt” điều mình muốn nói vào Sp2. Trao đáp: Cuộc hội thoại chính thức hình thành khi Sp2 nói ra lượt lời đáp lại lượt lời của Sp1, sẽ có sự lần lượt thay đổi vai nói, vai nghe giữa các nhân vật giao tiếp. Chúng ta đã biết lời là sản phẩm của các hành động ngôn ngữ. Tất cả các hành động ngôn ngữ đều đòi hỏi một sự đáp ứng.
Cũng như sự trao lời, sự trao đáp có thể thực hiện bằng các yếu tố phi lời hoặc bằng lời, thông thường thì hai loại yếu tố này đồng hành cùng nhau. Khi Sp1 phát ra một tín hiệu ngôn ngữ thì luôn mong muốn nhận được sự hồi đáp của Sp2. Nếu không nhận được sự trao đáp từ Sp2 thì Sp1 sẽ rơi vào tình trạng “nói vào chỗ trống”; đồng thời Sp2 “cũng tự cảm thấy áy náy, cảm thấy sự tàn nhẫn, sự thiếu lịch sự của mình” [5;543]. Cho nên trong hội thoại, cả người nói và người nghe đều sử dụng những tín hiệu điều hành vận động trao đáp; được thể hiện trong sơ đồ sau: Tín hiệu điều hành vận động trao đáp Tín hiệu đưa đẩy Tín hiệu phản hồi Tín Tín Tín Tín Tín Tín hiệu hiệu hiệu hiệu hiệu hiệu phi lời kèm lời bằng phi lời kèm lời bằng lời lời Tương tác: Các nhân vật giao tiếp ảnh hưởng lẫn nhau, tác động lẫn nhau đến cách ứng xử của từng người trong quá trình hội thoại.
Trong hội thoại, nhân vật hội thoại cũng là nhân vật liên tương tác. Họ e 11 tác động lẫn nhau về mọi phương diện, đối với ngữ dụng học quan trọng nhất là tác động đến lời nói (và ngôn ngữ) của nhau. “Liên tương tác trong hội thoại trước hết là liên tương tác giữa các lượt lời của Sp1 và Sp2.” [5;544] Như thế, lượt lời vừa là cái chịu tác động, vừa là phương tiện mà Sp1, Sp2 sử dụng để gây ra tác động đối với lời nói và qua lời nói mà tác động đến nhau. Theo tác giả Đỗ Hữu Châu: “Lượt lời là do một phát ngôn hoặc do một số phát ngôn liên kết với nhau kể từ khi được người nói nói ra cho đến khi người này ngừng lời, tức cho đến khi gặp một vị trí chuyển tiếp quan yếu” [5;609].