CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 1. TỔNG QUAN VỀ DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM 1.1 Khái niệm và yêu cầu cần thiết của doanh nghiệp bảo hiểm a. Khái niệm Doanh nghiệp bảo hiểm là doanh nghiệp đƣợc thành lập, tổ chức và hoạt động theo quy định của luật kinh doanh bảo hiểm và các quy đinh hác của pháp luật có liên quan để kinh doanh bảo hiểm, tái bảo hiểm. Đặc trưng của doanh nghiệp bảo hiểm Thứ nhất, Doanh nghiệp bảo hiểm có hoạt động kinh doanh tài chính, chủ yếu thƣờng xuyên và mang tính nghề nghiệp là kinh doanh bảo hiểm.
Tính đặc thù của kinh doanh bảo hiểm đƣợc thể hiện: - Đây là dịch vụ tài chính đặc biệt, là hoạt động kinh doanh trên những rủi ro. Sản phẩm của bảo hiểm là sản phẩm vô hình, nó là sự đảm bảo về mặt tài chính trƣớc rủi ro cho ngƣời đƣợc bảo hiểm kèm theo là dịch vụ có liên quan. - Chu kỳ kinh doanh bảo hiểm là chu kỳ đảo ngƣợc, tức là sản phẩm đƣợc án ra trƣớc, doanh thu đƣợc thực hiện sau đó mới phát sinh chi phí. Thứ hai, Doanh nghiệp bảo hiểm đƣợc tổ chức, thành lập và hoạt động theo các quy định của luật kinh doanh bảo hiểm và các quy định khác của pháp luật.
Thứ ba, Doanh nghiệp bảo hiểm chịu sự quản lý trực tiếp của Bộ Tài Chính. Để quản lý hoạt động kinh doanh bảo hiểm hầu hết các quốc gia trên thế giới đều giao cho một cơ quan quản l nhà nƣớc nhất định. Đây là đặc điểm Luan van 8 giúp phân biệt Doanh nghiệp bảo hiểm với doanh nghiệp khác trong nền kinh tế. Yêu cầu cần thiết - Về mặt kỹ thuật Doanh nghiệp bảo hiểm phải tổ chức tốt việc thống kê, lựa chọn rủi ro, tính phí bảo hiểm, giải quyết các khiếu nại khi có xảy ra sự kiện bảo hiểm.
- Về mặt pháp lý Doanh nghiệp bảo hiểm phải đƣợc thành lập và vận động đúng theo quy định của luật pháp địa phƣơng hoặc quốc gia mà doanh nghiệp hoạt động kinh doanh. - Về mặt kinh doanh Doanh nghiệp bảo hiểm phải đƣợc tổ chức thành một bộ máy hoàn chỉnh để có thể vận hành, gồm các bộ phận chức năng nhƣ: quản lý, nghiệp vụ, kinh doanh, tài chính, kế toán, hành chính nhân sự… - Về mặt tài chính Doanh nghiệp bảo hiểm tập trung huy động vốn từ số đông hách hàng nên phải có sự đảm bảo về mặt tài chính (ký quỹ, quỹ dự phòng, vốn chủ sở hữu, hiệu quả đầu tƣ… để hoạt động và tạo sự tin tƣởng đối với khách hàng. Những yêu cầu về tài chính phải đƣợc giám sát chặt chẽ bởi các cơ quan quản l nhà nƣớc. Nội dung, nguyên tắc hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm a.
Nội dung Thứ nhất : kinh doanh bảo hiểm, kinh doanh tái bảo hiểm + Trong kinh doanh bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm đƣợc quyền chủ động bán bảo hiểm dƣới các hình thức sau: trực tiếp; thông qua các đại lý bảo hiểm, môi giới bảo hiểm; thông qua đấu thầu; các hình thức khác phù hợp với quy định của pháp luật. + Trong kinh doanh tái bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm có quyền nhƣợng chuyển một phần trách nhiệm đã nhận bảo hiểm cho một hay nhiều Luan van 9 doanh nghiệp bảo hiểm hác nhƣng hông đƣợc nhƣợng toàn bộ trách nhiệm bảo hiểm đã nhận trong một hợp đồng bảo hiểm cho doanh nghiệp bảo hiểm hác để hƣởng hoa hồng tái bảo hiểm. Thứ hai: quản lý quỹ và đầu tƣ vốn: + Quản lý quỹ: Trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp bảo hiểm phải luôn duy trì mức vốn điều lệ đã đóng góp hông thấp hơn mức vốn pháp định đã quy định. + Trích lập quỹ dự phòng nghiệp vụ: là khoản tiền mà doanh nghiệp bảo hiểm phải trích lập nhằm mục đích thanh toán cho những trách nhiệm bảo hiểm đã đƣợc xác định trƣớc và phát sinh từ các hợp đồng bảo hiểm đã giao ết.
+ Đầu tƣ vốn: Nguồn vốn đầu tƣ của doanh nghiệp bảo hiểm bao gồm : vốn diều lệ, quỹ dự trữ bắt buộc, quỹ dự trữ tự nguyện, các khoản lãi những năm trƣớc chƣa sử dụng và các quỹ đƣợc sử dụng để đầu tƣ h nh thành từ lợi tức để lại của doanh nghiệp, nguồn vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm. Thứ ba: Doanh nghiệp bảo hiểm đƣợc thực hiện các hoạt động hác nhƣ: đề phòng, hạn chế rủi ro, tổn thât; giám định tổn thất; đại l giám định tổn thất, xét giải quyết bồi thƣờng, yêu cầu ngƣời thứ ba bồi hoàn và các hoạt động hác theo quy định của pháp luât. Nguyên tắc hoạt động - Nguyên tắc chỉ bảo hiểm sự rủi ro, không bảo hiểm sự chắc chắn: chỉ bảo hiểm một sự rủi ro xảy ra bất ngờ, ngẫu nhiên ngoài ý muốn con ngƣời chứ không bảo hiểm một cái chắc chắn xảy ra. - Nguyên tắc trung thực tuyệt đối: Tất cả các giao dịch kinh doanh cần đƣợc thực hiện trên cơ sở tin cậy lẫn nhau, trung thực tuyệt đối.
- Nguyên tắc quyền lợi có thể đƣợc bảo hiểm: Quyền lợi có thể đƣợc bảo hiểm là lợi ích hoặc quyền lợi liên quan, gắn liền hay phụ thuộc vào sự an toàn hay không an toàn của đối tƣợng bảo hiểm. Luan van 10 - Nguyên tắc bồi thƣờng: Theo nguyên tắc bồi thƣờng, khi có tổn thất xảy ra, ngƣời bảo hiểm phải bồi thƣờng nhƣ thế nào đó để đảm bảo cho ngƣời đƣợc bảo hiểm có vi trí tài chính nhƣ trƣớc khi có tổn thất xảy ra, hông hơn không kém. - Nguyên tắc thế quyền: Theo nguyên tắc thế quyền, ngƣời bảo hiểm sau khi bồi thƣờng cho ngƣời đƣợc bảo hiểm, có quyền thay mặt ngƣời đƣợc bảo hiểm để đòi ngƣời thứ 3 trách nhiệm bồi thƣờng cho mình. - Nguyên tắc lấy số đông số ít: Dựa trên cơ sở nghiên cứu về quy luật số lớn, ngƣời ta có thể xác định đƣợc mức độ thiệt hại bình quân cho những khoảng thời gian nhất định.
Số ngƣời tham gia bảo hiểm càng đông th hả năng đắp rủi ro càng lớn, độ an toàn càng cao và ngƣợc lại.3 Đặc điểm hoạt động của Doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ a. Đối tượng kinh doanh đa dạng - Bảo hiểm tài sản: BH ô tô, xe máy, BH máy bay, BH tàu thủy, BH vận chuyển hàng hóa nội địa và xuất nhập khẩu, BH đầu máy và toa xe, BH tài sản cá nhân và doanh nghiệp, BH tín dụng. - Bảo hiểm con ngƣời: BH nhân thọ, BH tai nạn lao động, BH tai nạn hành khách, BH tai nạn học sinh, sinh viên… - Bảo hiểm trách nhiệm dân sự: BH trách nhiệm dân sự lái xe cơ giới, BH trách nhiệm dân sự chủ tàu, BH trách nhiệm dân sự chủ hãng hàng hông… b. Bảo hiểm là ngành kinh doanh có nguồn vốn lớn Hiện các công ty bảo hiểm đang quản lý một lƣợng lớn nguồn vốn.
Nguồn vốn này các Công ty bảo hiểm có nhu cầu đầu tƣ dài hạn, đầu tƣ vào các dự án có mức độ mạo hiểm nhằm thu lợi nhuận. Hoạt động kinh doanh bảo hiểm luôn luôn phải có dự phòng bảo hiểm Doanh nghiệp phải luôn duy trì khả năng thanh toán trong suốt qua trình hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Khi có nguy cơ mất khả năng thanh toán, doanh nghiệp phải chủ động thực hiện ngay các biện pháp tự khôi phục khả năng thanh toán, đồng thời báo cáo Bộ Tài chính về thực trạng tài chính, nguyên nhân dẫn đến nguy cơ mất khả năng thanh toán và phƣơng án hôi phục. Nếu không khôi phục đƣợc khả năng thanh toán, doanh nghiệp sẽ bị đặt vào tình trạng kiểm soát đặc biệt.
Hoạt động kinh doanh bảo hiểm vừa hợp tác vừa cạnh tranh Doanh nghiệp bảo hiểm làm quen với hội nhập hợp tác quốc tế và tạo ra sự cạnh tranh để doanh nghiệp bảo hiểm tự nâng cao năng lực cạnh tranh của mình nhằm đem lại lợi ích tốt hơn cho ngƣời tham gia bảo hiểm. Trong quá trình phát triển thì các doanh nghiệp bảo hiểm cần phải hợp tác để đƣa đến thống nhất và đòi hỏi canh tranh lành mạnh. Hoạt động kinh doanh bảo hiểm phải tuân theo các quy định của pháp luật và các điều ước quốc tế có liên quan Để các Doanh nghiệp bảo hiểm hoạt động có hiệu quả trong nền kinh tế thị trƣờng cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật và các điều ƣớc quốc tế có liên quan đến hoạt động bảo hiểm. KHÁI QUÁT VỀ PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 1.
Một số khái niệm a. Khái quát về hiệu quả Bản chất của hiệu quả chính là kết quả của lao động xã hội, đƣợc xác định trong mối quan hệ so sánh lƣợng kết quả hữu ích cuối cùng thu đƣợc với lƣợng hao phí lao động xã hội. Luan van 12 Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế tổng hợp đƣợc tạo thành bởi tất cả các yếu tố của quá trình sản xuất kinh doanh, nên cần phải xem xét hiệu quả kinh doanh trên cả hai mặt là hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội. Hiệu quả xã hội phản ánh những mặt lợi ích xã hội đạt đƣợc từ quá trình hoạt động kinh doanh Hiệu quả kinh tế là sự so sánh giữa kết quả đạt đƣợc với chi phí bỏ ra để đạt đƣợc kết quả đó.
Khái niệm về hiệu quả tài chính doanh nghiệp Bản chất tài chính doanh nghiệp là những mối quan hệ tiền tệ gắn trực tiếp với việc tổ chức, huy động, phân phối, sử dụng, và quản lý vốn trong quá trình kinh doanh. Trên thực tế hiện nay, khi hiểu về hiệu quả tài chính doanh nghiệp có hai quan điểm: Quan điểm thứ nhất: hiệu quả tài chính là hiệu quả của việc huy động vốn, quản lý và sử dụng vốn trong quá trình kinh doanh. Quan điểm thứ hai: hiệu quả tài chính là hiệu quả của việc huy động vốn, còn hiệu quả của việc quản lý và sử dụng vốn là hiệu quả kinh doanh. Luận văn đứng trên quan điểm thứ nhất.
Khái niệm về hiệu quả tài chính doanh nghiệp Phân tích hiệu quả tài chính là quá trình sử dụng các kỹ thuật phân tích thích hợp nhằm xử lý tài liệu từ báo cáo tài chính và các tài liệu khác, hình thành các chỉ tiêu tài chính nhằm đánh giá thực trạng tài chính, khả năng tạo ra lãi của doanh nghiệp và dự đoán tiềm lực tài chính trong tƣơng lai. Nhƣ vậy phân tích hiệu quả tài chính là việc chuyển các dữ liệu tài chính trên báo cáo tài chính thành những thông tin hữu ích. Quá trình này có thể thực hiện theo nhiều cách khác nhau tùy thuộc vào mục tiêu của nhà phân tích Luan van 13 1.