phần mở đầu, kết luận, danh mục các từ viết tắt, danh mục bảng biểu, hình, danh mục tài liệu tham khảo. Đề tài đƣợc kết cấu gồm có 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về HQHĐ và phân tích HQHĐ trong các DN. Chƣơng 2: Thực trạng phân tích HQHĐ tại Công ty TNHH Sản xuất và Thƣơng mại Dịch vụ Tân Thành Long. Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện phân tích HQHĐ tại Công ty TNHH Sản xuất và Thƣơng mại Dịch vụ Tân Thành Long.
e 8 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG VÀ PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP 1. HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG 1.1 Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp 1. Khái niệm về hiệu quả hoạt động Trong từ điển Kinh tế học, hiệu quả đƣợc hiểu là: “Kết quả thực của việc làm mang lại” (Nguyễn Văn Ngọc, 2012). Điều này cho thấy, hiểu một cách chung nhất, hiệu quả là một phạm trù kinh tế xã hội, là một chỉ tiêu phản ánh trình độ của con ngƣời sử dụng các yếu tố cần thiết tham gia trong các hoạt động để đạt đƣợc kết quả với mục đích của mình.
Đây là một khái niệm rộng, bao gồm tất cả các lĩnh vực đời sống, kinh tế, xã hội, nó không chỉ đề cập đến hiệu quả kinh tế mà còn có hiệu quả xã hội. Từ đó cho thấy, đứng trên nhiều góc độ khác nhau thì sẽ có nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả và HQHĐ nhƣ: (i) Xét về mục tiêu của chủ thể khi thực hiện thì hiệu quả chia thành hiệu quả nói chung và hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội nói riêng; (ii) Xét theo thời gian thực hiện thì hiệu quả chia thành hiệu quả trong ngắn hạn và hiệu quả trong dài hạn; (iii) Xét về tính toán HQHĐ thì HQHĐ chia thành HQHĐ tổng thể và HQHĐ của từng bộ phận cá biệt; (iv) Xét theo tính chất tác động thì hiệu quả chia thành hiệu quả trực tiếp và hiệu quả gián tiếp; còn xét trong quan hệ với phƣơng thức xác định thì chia thành hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả tƣơng đối, … Vì thế, tác giả cho rằng khi đánh giá một hoạt động nói chung cũng nhƣ hoạt động KD nói riêng, chúng ta không chỉ dừng lại ở việc xem xét các kết quả thu đƣợc mà phải xem xét trong mối quan hệ giữa kết quả thu đƣợc với e 9 các chi phí đã bỏ ra để thực hiện hoạt động đó. Đứng trên khía cạnh hiệu quả kinh tế, tác giả Huỳnh Đức Lộng (1999, tr.6) nêu rõ “Hiệu quả kinh tế của nền sản xuất xã hội là phạm vi kinh tế phản ánh yêu cầu tiết kiệm thời gian lao động xã hội trong việc tạo ra kết quả hữu ích cho xã hội công nhận. Nó được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu đặc trưng, xác định bằng tỷ lệ so sánh giữa các chỉ tiêu phản ánh kết quả đạt được về mặt kinh tế với chỉ tiêu phản ánh chi phí bỏ ra hoặc nguồn lực được huy động vào sản xuất”.
Nhƣ vậy, theo quan điểm của ông, khi xem xét hiệu quả kinh tế không chỉ đơn thuần nhìn vào kết quả thu đƣợc mà phải so sánh giữa kết quả mang lại đƣợc xã hội công nhận với các chi phí hoặc nguồn lực bỏ ra để thực hiện cho kết quả đó. Bên cạnh đó, cũng có tác giả cho rằng khi xem xét hiệu quả kinh tế cần xem xét một cách toàn diện cả về thời gian và không gian và đƣợc đặt trong mối quan hệ với hiệu quả xã hội. Đồng thời, theo XingXao (trích trong Phạm Phúc, 2004) cũng phát biểu thêm rằng “Hiệu quả kinh tế nói chung và hiệu quả kinh tế trong công nghiệp là những phạm trù phức tạp, chúng phản ánh trình độ sử dụng các loại chi phí khác nhau cho sản xuất để tạo ra những kết quả mong muốn đáp ứng được mục tiêu kinh tế xã hội nào đó”. Nhƣ vậy, theo các tác giả, hiệu quả không chỉ đơn thuần là thu đƣợc kết quả tốt nhất với các chi phí bỏ ra thấp nhất về mặt kinh tế trong một thời kỳ nhất định mà hiệu quả đó còn phải gắn với lợi ích chung của toàn xã hội (hiệu quả xã hội) trong tƣơng lai lâu dài.
Đứng trên khía cạnh HQHĐ trong hoạt động KD của các DN, tác giả Nguyễn Văn Công (2014) cho rằng “Hiệu quả KD là một phạm trù kinh tế, phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực sẵn có của DN để đạt được kết quả cao nhất trong KD với chi phí thấp nhất”. Quan điểm này cho rằng hiệu quả KD khác với kết quả KD và có mối quan hệ chặt chẽ với kết quả KD. Kết quả KD của DN bao gồm cả hiệu quả KD của DN và hiệu quả xã hội do DN tạo ra. Chính vì vậy, khi đánh giá hoạt động KD của DN, chúng ta không chỉ dừng lại ở việc đánh giá kết quả mà còn đánh giá chất lƣợng hoạt động KD để e 10 tạo ra kết quả đó.
Từ đó, tác giả cho rằng: “HQHĐ là một phạm trù phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực của DN vào hoạt động KD sao cho hao phí nguồn lực, tài lực là thấp nhất với lợi ích mang lại là cao nhất; lợi ích mang lại bao gồm lợi ích cho bản thân DN và lợi ích cho cả xã hội”. Phân loại hiệu quả hoạt động HQHĐ đƣợc xem là một phạm trù lớn và mang tính tổng hợp; vì vậy, trong việc tiếp cận, phân tích và đánh giá HQHĐ tác giả cho rằng cần nhận thức rõ về tính đa dạng các chỉ tiêu về HQHĐ và phân loại các chỉ tiêu của HQHĐ. Vì vậy, theo tác giả có các cách phân loại về HQHĐ nhƣ sau: - Phân theo mức độ tổng hợp hay chi tiết, HQHĐ bao gồm: + Hiệu quả tổng hợp: Trong nền kinh tế thị trƣờng, mục tiêu hàng đầu của các DN là thu đƣợc lợi nhuận cao. Quá trình KD của các DN cũng là thƣớc đo đánh giá hiệu quả đã đạt đƣợc.
Vì vậy, hiệu quả tổng hợp đƣợc thể hiện ở số lợi nhuận DN thu đƣợc trong kỳ và mức sinh lời của một đồng vốn KD. Nói cách khác, lợi nhuận thể hiện kết quả tổng thể của quá trình phối hợp tổ chức đảm bảo KD của DN; + Hiệu quả chi tiết: Để có thể xem xét đánh giá một cách chính xác hiệu quả, ngƣời ta xây dựng các chỉ tiêu chi tiết cho từng yếu tố của quá trình sản xuất KD trên cơ sở so sánh từng loại phƣơng tiện, từng nguồn lực với kết quả đạt đƣợc. Các chỉ tiêu biểu hiện hiệu quả này đối với từng loại phƣơng tiện khác nhau thƣờng đƣợc sử dụng với nhiều tên gọi nhƣ: hiệu suất, năng suất, tỷ suất,. - Phân theo mối quan hệ với các chính sách tài trợ, HQHĐ bao gồm: + Hiệu quả KD: là công cụ quản lý KD của DN, không những cho biết trình độ sản xuất mà còn giúp tìm ra các biện pháp tăng kết quả và giảm chi phí KD, nhằm nâng cao hiệu quả.
+ Hiệu quả tài chính: đƣợc hiểu là hiệu quả sản xuất KD hay hiệu quả DN, là hiệu quả kinh tế xét trong phạm vi một DN. Hiệu quả tài chính phản e 11 ánh mối quan hệ giữa lợi ích kinh tế mà DN nhận đƣợc với chi phí mà DN phải bỏ ra để có đƣợc lợi ích kinh tế. - Phân theo mối quan hệ với cộng đồng kinh doanh, HQHĐ bao gồm: + Hiệu quả kinh tế: là một đại lƣợng so sánh: so sánh giữa đầu vào và đầu ra hoặc so sánh giữa đầu ra với đầu vào, so sánh giữa chi phí KD bỏ ra với kết quả KD thu đƣợc hoặc chi phí KD bỏ ra với LN thu đƣợc,. + Hiệu quả xã hội: là phép so sánh giữa quá trình kết hợp các yếu tố lao động, tƣ liệu lao động và đối tƣợng lao động theo một mối tƣơng quan cả về số lƣợng và chất lƣợng trong quá trình KD để tạo ra kết quả là sản phẩm, dịch vụ tiêu chuẩn cho tiêu dùng và giải quyết các vấn đề xã hội.
Kết quả này có thể là một đại lƣợng vật chất có thể định lƣợng đƣợc nhƣ: mức đóng góp của DN vào ngân sách Nhà nƣớc thông qua nộp thuế hoặc tạo ra số công ăn việc làm cho ngƣời lao động với mức thu nhập BQ đầu ngƣời đƣợc chi trả,.; nhƣng vẫn có thể chỉ là một sự so sánh đơn thuần về chi phí bỏ ra so với sự thỏa mãn, hài lòng đạt đƣợc trong tiêu dùng (số lƣợng sản phẩm tiêu dùng, nhu cầu đi lại, giao tiếp,.) và có phạm vi xác định (tổng giá trị sản xuất, giá trị sản lƣợng hàng hóa, giá trị thực hiện, giao dịch,.), hiệu quả xã hội này thiên về nhận định định tính nhƣ: góp phần giải quyết nhu cầu tiêu dùng của ngƣời dân, góp phần nâng cao trình độ chuyên môn và kỹ năng thực hành cho ngƣời lao động hay góp phần cải thiện văn hóa, giáo dục, môi trƣờng,. Các nhân tố ảnh hƣởng đến hiệu quả hoạt động Nâng cao HQHĐ trong các DN là yêu cầu quan trọng và là mục tiêu hàng đầu trong quá trình KD tại DN. HQHĐ tại DN chịu nhiều tác động từ các nhân tố bên trong và cả bên ngoài của DN. Các nhân tố này tác động qua lại, tƣơng hỗ lẫn nhau và tác động đến hoạt động quản lý.
Các nhân tố này có thể tác động tích cực, tiêu cực đến HQHĐ của DN. Có nhiều yếu tố ảnh hƣởng đến HQHĐ của DN, tuy nhiên có thể chia thành hai nhân tố chính là nhân tố bên trong và nhân tố bên ngoài. Hai nhân tố này đƣợc phân tích nhƣ sau (Nguyễn Ngọc Tiến, 2017): e 12 Nhân tố bên trong DN: Nhân tố bên trong DN bao gồm các nhân tố thuộc về DN, chẳng hạn nhƣ nhân tố vốn, nhân tố con ngƣời, nhân tố trình độ phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật, nhân tố trình độ kỹ thuật công nghệ, nhân tố quản trị DN và cơ cấu tổ chức, nhân tố hệ thống trao đổi và xử lý thông tin,… Nó là tiền đề quyết định HQKD của DN và ảnh hƣởng trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của DN. Các nhân tố này tác động cụ thể nhƣ sau: - Nhân tố vốn: đây là nhân tố giúp cho DN duy trì hoạt động KD ổn định và quyết định đến quy mô của DN.
Nhân tố này phản ảnh sức mạnh của DN thông qua việc huy động vốn vào KD, khả năng phân phối, đầu tƣ hiệu quả các NV cũng nhƣ khả năng quản lý có hiệu quả các NV KD của DN.