phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục… luận văn đƣợc trình bày gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về hiệu quả hoạt động và các nhân tố tác động đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp; Chƣơng 2: Thiết kế nghiên cứu; Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu; Chƣơng 4: Kết luận và một số hàm ý chính sách. Tổng qu n tài liệu Cho đến nay, đã có nhiều tác giả trong và ngoài nƣớc tiến hành các bài nghiên cứu, khảo sát về các nhân tố tác động đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhƣ sau: “Phân tích hiệu quả hoạt động của các công ty ngành dƣợc niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam”, Võ Đức Nghiêm (2013) [1] đã chỉ ra rằng: tỷ suất nợ, số vòng quay hàng tồn kho, số vòng quay nợ phải thu, tỷ trọng tài sản cố định, tỷ lệ chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp trên doanh thu thuần và tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu là sáu nhân tố ảnh hƣởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngành này. Bằng cách xây dựng mô Luan van 4 hình tuyến tính hồi quy bội nghiên cứu và ƣớc lƣợng theo phƣơng pháp bình phƣơng nhỏ nhất (OLS), nghiên cứu đã chỉ ra rằng trong sáu nhân tố ảnh hƣởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh nêu trên thì có ba nhân tố là: tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu, tỷ trọng tài sản và số vòng quay nợ phải thu là ba nhân tố có tác động thuận chiều. Đặc biệt, nhân tố tỷ lệ lợi nhuận trên doanh thu có ảnh hƣởng quan trọng nhất.
Ba nhân tố còn lại là: tỷ suất nợ, tỷ lệ chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp và số vòng quay hàng tồn kho có mối quan hệ nghịch chiều với ROA. Số liệu đƣợc thu thập của các công ty thuộc ngành dƣợc trong vòng bốn năm từ đầu năm 2008 đến hết năm 2011. Tác giả luận văn đã phân loại các doanh nghiệp mà mình nghiên cứu theo loại hình kinh tế và chi tiết theo hình thức sở hữu để phân tích hiệu quả hoạt động cho từng loại hình, những lợi thế, bất lợi nhằm đƣa ra các giải pháp khắc phục. “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hƣởng đến hiệu quả hoạt động của các công ty ngành khoán sản niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam”, Hoàng Thị Thắm (2015) [2] đã chỉ ra rằng: quy mô doanh nghiệp, cơ cấu tài sản, cấu trúc tài chính, khả năng thanh toán hiện hành, tốc độ tăng trƣởng doanh nghiệp, lạm phát, lãi suất và tốc độ tăng trƣởng GDP là các nhân tố ảnh hƣởng đến hiệu quả hoạt động của ngành này.
Bằng cách xây dựng mô hình tuyến tính hồi quy bội, nghiên cứu đã chỉ ra rằng trong các nhân tố nêu trên thì có nhân tố quy mô doanh nghiệp, tốc độ tăng trƣởng doanh nghiệp có quan hệ thuận chiều với ROA và ROE; cơ cấu tài sản, cấu trúc tài chính có mối quan hệ nghịch chiều với hiệu quả hoạt động; lạm phát ảnh hƣởng tích cực đến ROE mà không ảnh hƣởng ROA và lãi suất có tác động nghịch chiều với ROA, ROE. Nhân tố tốc độ tăng trƣởng kinh tế và khả năng thanh toán không ảnh hƣởng đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Theo tôi, đề tài chƣa giải thích sâu sự ảnh hƣởng của các nhân tố ảnh hƣởng đến biến độc lập và Luan van 5 phạm vi nghiên cứu chỉ 16 doanh nghiệp ngành khoáng sản niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam nên kết quả có thể chƣa thực sự phản ánh chính xác cho phạm vi tổng thể. Luận văn có bố cục gồm 4 chƣơng, tác giả đã tham khảo về cách thức, trình tự phân tích nhằm áp dụng phù hợp cho các doanh nghiệp mình đang nghiên cứu.
Tác giả luận văn đã sử dụng các chỉ tiêu giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, giá trị cao nhất và thấp nhất để đánh giá, qua đó chỉ ra nguyên nhân dẫn đến sự yếu kém của các doanh nghiệp. Ngoài ra còn có thể kể đến một số các nghiên cứu khác ngoài nƣớc về hiệu quả hoạt động trong doanh nghiệp nhƣ: “Capital Structure and firm peformce: evidan from Nigeria”, Onaolapo & Kajola (2010) [6]. Tác giả nghiên cứu biến hiệu quả kinh doanh dƣới góc độ tài chính đƣợc đại diện bởi chỉ số ROA, ROE. Biến độc lập bao gồm: SIZE (quy mô doanh nghiệp), TANG (tỷ lệ TSCĐ), GROWTH (khả năng tăng trƣởng), TURN (vòng quay tài sản), AGE (số năm hoạt động).
Dữ liệu nghiên cứu gồm 30 công ty phi tài chính niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Nigeria từ năm 2001 – 2007. Mô hình tác động ngẫu nhiên đƣợc cho thích hợp bởi kiểm định Hausman với mức ý nghĩa trên 5%. Tuy nhiên, kết quả của mô hình này không khác biệt đáng kể so với mô hình ƣớc lƣợng OLS; do đó tác giả bài viết kết luận dựa trên kết quả của mô hình hồi quy OLS. Kết quả hồi quy cho thấy: tỷ lệ nợ, tỷ lệ tài sản cố định có tác động nghịch chiều với hiệu quả hoạt động; vòng quay tài sản, quy mô và số năm hoạt động có tác động thuận chiều với hiệu quả kinh doanh.
Tác giả đã tham khảo và kế thừa nhằm thực hiện phân tích các nhân tố tác động hiệu quả hoạt động các doanh nghiệp trong luận văn của mình. Qua bài báo này đã chỉ ra cách thức thực hiện và đánh giá các chỉ tiêu tác động qua mối liên hệ với nhau theo từng nhân tố cụ thể. Luan van 6 “The Relationship between Capital Structure and Firm Performance Evaluation Measures Evidence from the Tehran Stock Exchange”- Tác giả: Abbasali Pouraghajan và Esfandiar Malekian (2012) [7] nghiên cứu tác động của cơ cấu vốn đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp với mẫu nghiên cứu là 400 công ty thuộc 12 ngành công nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán Tehran trong những năm 2006 - 2010. Trong nghiên cứu này, đã sử dụng: tỷ lệ nợ, vòng quay tài sản, quy mô công ty (tài sản), tỷ trọng tài sản hữu hình, thời gian hoạt động, tốc độ tăng trƣởng.
Chỉ số lợi nhuận trên tài sản (ROA) và lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) là chỉ số đánh giá hiệu quả hoạt động tài chính của các công ty. Kết quả cho thấy mối quan hệ nghịch và tác động mạnh mẽ giữa tỷ lệ nợ và HQKD. Các nhân tố vòng quay tài sản, quy mô doanh nghiệp, cấu trúc tài sản hữu hình và tốc độ tăng trƣởng có mối quan hệ ý nghĩa và tích cực với hiệu quả hoạt động công ty (ROA và ROE). Có thể thấy trong bài nghiên cứu này biến kiểm soát là những nhân tố ảnh hƣởng đến HQKD của doanh nghiệp.
Không có mối quan hệ ý nghĩa giữa năm hoạt động doanh nghiệp và HQKD. Nghiên cứu của H.Jamal Zubairi (2010) [8] về tác động của quản trị vốn và cấu trúc tài chính đối với khả năng sinh lời của các doanh nghiệp ô tô ở Pakistan, với quy mô nghiên cứu là 7 công ty ngành ô tô niêm yết trên sàn chứng khoán Karachi ở Pakistan trong khoảng thời gian từ năm 2000 đến năm 2008. Bằng phƣơng pháp phân tích hồi quy đa biến, nghiên cứu cho thấy kết quả đòn bẩy kinh doanh có mối quan hệ nghịch chiều tới ROE. Ngƣợc lại quy mô doanh nghiệp, đòn bẩy tài chính và khả năng thanh toán có mối quan hệ ảnh hƣởng thuận chiều tới ROE.
Một nghiên cứu của Camelia Burja (2011) [9] về các nhân tố ảnh hƣởng đến tỷ suất sinh lời của một doanh nghiệp trong ngành hóa chất Rumani sử dụng mô hình phân tích hồi quy bội với biến độc lập của nghiên cứu là tỷ suất sinh lời tài sản (ROA). Dữ liệu đƣợc thu nhập từ báo cáo tài Luan van 7 chính hằng năm của công ty này với khoảng thời gian 1999-2009. Kết quả nghiên cứu của Camelia Burja chỉ ra sự ảnh hƣởng của cấu trúc tài chính (tỷ suất nợ và đòn bẩy tài chính), số vòng quay hàng tồn kho, số vòng quay nợ phải thu, tỷ lệ tài sản cố định và tỷ suất chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp tới ROA của doanh nghiệp này. Nghiên cứu cũng chỉ ra mối quan hệ cùng chiều giữa cấu trúc tài chính, tỷ trọng TSCĐ, số vòng quay hàng tồn kho và nợ phải thu với tỷ suất sinh lời tài sản cố định (ROA).
Một nghiên cứu khác của Khalaf Taani và Mari'e H. Dữ liệu đƣợc thu nhập từ báo cáo tài chính hằng năm của các công ty này với khoảng thời gian 10 năm từ năm 2000 đến năm 2009. Kết quả nghiên cứu của Khalaf Taani và Mari'e Hasan Hamed Banykhaled chỉ ra sự ảnh hƣởng của khả năng sinh lời trên VCSH (ROE), số vòng quay tài sản (TATO), dòng tiền từ hoạt động kinh doanh, tỉ lệ nợ/ VCSH, quy mô của doanh nghiệp, khả năng thanh toán hiện hành và giá cổ phiếu so với ghi sổ (PBV) tới EPS của doanh nghiệp này. Nó cho thấy theo quan điểm của các nhà đầu tƣ, tỷ lệ tài chính đƣợc sử dụng để đƣa ra quyết định đầu tƣ.
Và nghiên cứu này cũng cho thấy R2 chỉ cao nhất là 42%, tác giả cho thấy ngoài yếu tố nội sinh còn có các yếu tố vĩ mô, tình hình chính trị, chính sách công nghiệp của chính phủ và các khía cạnh kỹ thuật trong các công ty cũng ảnh hƣởng đến EPS. Nghiên cứu cũng chỉ ra mối quan hệ cùng chiều giữa khả năng sinh lời trên VCSH (ROE), số vòng quay tài sản (TATO), dòng tiền từ hoạt động kinh doanh, tỉ lệ nợ/ VCSH, khả năng thanh toán hiện hành và giá cổ phiếu so với ghi sổ (PBV) với tỷ suất sinh lời về lãi cơ bản trên cổ phiếu phổ thông (EPS). Bài báo này còn hạn chế về số lƣợng doanh nghiệp và thời Luan van 8 gian quan sát, cần tăng mẫu ở cả hai doanh nghiệp và thời gian quan sát cho các nghiên cứu tiếp theo. Hơn nữa, các biến số vĩ mô khác có thể ảnh hƣởng đến lợi nhuận của chứng khoán nhƣ lãi suất, tăng trƣởng kinh tế (GDP) và lạm phát có thể đƣợc sử dụng để mở rộng nghiên cứu tiếp theo.
Nghiên cứu của Almajali (2012) [11] cũng chỉ ra rằng khả năng thanh toán hiện hành thực sự có ý nghĩa thống kê dƣơng đối với hiệu quả tài chính của 25 công ty bảo hiểm niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Amman giai đoạn 2002-2007. Ngƣợc lại với các ý kiến trên, Hvide và cộng sự (2007) dựa trên một mô hình lý thuyết của Evans và Jovanovic (1989), cho rằng một sự phong phú trong thanh khoản có thể gây hại nhiều hơn là lợi đối với hiệu suất kinh doanh, kết quả này cũng phù hợp với kết quả thực nghiệm của Majumdar (1997).