CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ QUAN HỆ KHÁCH HÀNG 1. Giới thiệu về quản trị quan hệ khách hàng (CRM) 1. CRM trong hệ thống quản lý của doanh nghiệp Hệ thống quản trị quan hệ khách hàng (CRM) là một thuật ngữ được dùng liên quan tới một loạt hoạt động của doanh nghiệp, do phần mềm máy tính hỗ trợ, giúp doanh nghiệp quản lý một cách hiệu quả mối quan hệ giữa khách hàng với doanh nghiệp (DN). Đồng thời quản lý, theo dõi và đánh giá các hoạt động trong doanh nghiệp bao gồm: phân tích khách hàng, chiến lược phát triển khách hàng, quản lý mua hàng, quản lý chiến dịch tiếp thị đến khách hàng, quản lý cơ hội, dự báo tiềm năng khách hàng v.
Mục tiêu tổng quát của hệ thống CRM là đảm bảo việc quản lý tốt nhất mối quan hệ giữa quan hệ khách hàng với doanh nghiệp, sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực của doanh nghiệp cho việc quản trị quan hệ khách hàng để từ đó đưa ra được các chiến lược bán hàng, tiếp thị với hiệu quả cao nhất cho doanh nghiệp. Với sự trợ giúp của một chương trình CRM hiệu quả, DN có thể phân tích thấu đáo mọi thông tin về mỗi khách hàng cả ở dạng tiềm năng và thân thiết. Từ đó định ra các giá trị thực mà khách hàng có khả năng mang lại và phân loại các nhóm khách hàng theo các thị trường mục tiêu nhằm có chính sách chăm sóc hợp lý hơn. Ở một phương diện khác, CRM còn hỗ trợ đắc lực cho các doanh nghiệp khi xây dựng chiến lược marketing nhờ một hệ thống thông tin trong suốt về hồ sơ các khách hàng, giúp đơn giản hóa quá trình tiếp thị và bán hàng [11].
7 Quản lý chiến dịch Quản lý tiềm năng Quản lý cơ hội Hệ thống CRM Quản lý hợp đồng Quản lý tổ chức Quản lý phân hệ bán hàng Hình 1: Minh họa một hệ thống CRM [11] Hình 2: Sơ đồ chu trình biến đổi giá trị khách hàng [5] 8 1. Hiện trạng CRM ở Việt Nam Ở Việt Nam, khái niệm quản trị quan hệ khách hàng còn khá mới mẻ đối với các công ty và các doanh nghiệp. Hầu hết các công ty hoặc là chưa tiến hành thực hiện công việc quản lý khách hàng hoặc là có thực hiện nhưng còn thủ công theo kiểu truyền thống là lưu trên số sách. Do đó việc quản trị khách hàng còn nhiều hạn chế và không hiệu quả.
Nhận thấy tầm quan trọng của việc quản trị quan hệ khách hàng, nhiều công ty phần mềm cũng đã bắt đầu tiến hành nghiên cứu và phát triển. Tuy nhiên chưa có một công ty nào xây dựng được một hệ thống CRM mạnh và chuyên nghiệp. Bên cạnh một số công ty đang bắt tay vào việc xây dựng sản phẩm, thì chủ yếu các công ty phần mềm của Việt Nam việt hóa sản phẩm của nước ngoài hoặc làm đại lý hệ thống phân phối sản phẩm cho các hãng sản xuất CRM của nước ngoài. Do đó, các sản phẩm CRM đã có trên thị trường chưa tương thích hoàn toàn với môi trường doanh nghiệp của Việt Nam và chỉ tác động được vào một số nhỏ các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
[11] Việc triển khai CRM cho các doanh nghiệp Việt Nam còn gặp rất nhiều khó khăn, hầu hết các doanh nghiệp đều chưa triển khai CRM với nhiều lý do chủ quan và khách quan sau: - Nhận thức: Các đối tượng triển khai CRM chủ yếu là các doanh nghiệp lớn, các doanh nghiệp Việt Nam chưa có thói quen chi trả một số tiền lớn để mua một hệ thống phần mềm quản trị quan hệ khách hàng của họ. Phần lớn các doanh nghiệp chỉ dừng lại ở mức triển khai một số hệ thống phần mềm như kế toán, quản lý nhân lực và một số phần mềm quản lý khác cho các bộ phận trong công ty. - Quy trình quản lý: Để triển khai được hệ thống CRM đòi hỏi doanh nghiệp phải có các quy trình chặt chẽ, khoa học trong mọi hoạt động. Muốn áp dụng được CRM trước hết phải chuẩn hóa quy trình nghiệp vụ, hiện nay hầu hết các doanh nghiệp Việt nam chưa có quy trình nghiệp vụ rõ ràng, cụ thể do đó không phải doanh nghiệp nào cũng dùng được CRM.
- Yêu cầu triển khai cao: CRM là một hệ thống yêu cầu dữ liệu cần được thống nhất trên tất cả các nguồn và phải là dữ liệu sạch, do vậy khi triển khai phải đảm bảo các 9 điều kiện cần thiết như hệ quản trị cơ sở dữ liệu phải có khả năng lưu trữ số lượng lớn, tính bảo mật cao, có khả năng hỗ trợ việc truy cập thời gian thực và cập nhật vào dữ liệu khách hàng trung tâm với khả năng chạy nhiều báo cáo quan trọng về hệ thống sản xuất, kinh doanh. Mô hình hệ thống CRM Việc xây dựng, vận hành hệ thống CRM ở mỗi doanh nghiệp thường khác nhau. Do vậy, vấn đề đầu tiên trong triển khai hệ thống CRM là phải đánh giá được mô hình CRM nào thích hợp nhất với đơn vị mình. Nhiều người thường đặt câu hỏi: “Liệu có mô hình CRM nào có thể áp dụng cho mọi DN?” Câu trả lời là “không thể”.
Vì mỗi DN có tiêu chí hoạt động, mục tiêu kinh doanh và đặc thù khác nhau. Tuy nhiên, một doanh nghiệp có thể tham khảo mô hình mà số đông các DN khác lựa chọn, từ đó tham chiếu mức độ phù hợp đối với DN mình. Hình 3: Các thành phần chủ yếu khi xây dựng mô hình CRM [11] Như vậy, CRM nhìn chung có sáu thành phần chủ yếu a. Xây dựng cơ sở dữ liệu chung về khách hàng Đây là yêu cầu tiên quyết đối với mọi DN.
Có nhiều phương pháp để thu thập thông tin như: tiếp xúc trực tiếp, phát phiếu điều tra, website, e-mail, điện 10 thoại. Vấn đề cần nhấn mạnh ở đây là phải xây dựng cơ sở dữ liệu (CSDL) chung về khách hàng (KH) và phải được coi là tài sản chung của DN chứ không phải của bất cứ cá nhân nào. Phân tích, thống kê dữ liệu Đối với các DN việc phân tích, thống kê các dữ liệu về khách hàng không phải vấn đề gì mới. Trước mỗi quyết định quan trọng, lãnh đạo DN bao giờ cũng cần được cung cấp đầy đủ các thông tin về khách hàng để làm cơ sở đánh giá.
Mặc dù, dữ liệu về khách hàng và phương pháp phân tích, thống kê được thể hiện không giống nhau đối với từng DN nhưng lượng thông tin cần để đánh giá được hiện tại và tương lai của khách hàng thì thường tương đương nhau. Lựa chọn khách hàng Việc lựa chọn đối tượng khách hàng cụ thể thường cần thêm thông tin bổ sung từ những nguồn dữ liệu khác như: thông tin về thị trường, về đối thủ cạnh tranh. Nếu lựa chọn không chính xác có thể làm mất những khách hàng quan trọng trong số những khách hàng tiềm năng. Do vậy, việc đảm bảo dữ liệu, thông tin đầu vào “sạch” là điều kiện cốt tử để có được quyết định chuẩn xác trước khách hàng.
Xây dựng mối quan hệ Về khía cạnh nào đó có thể gọi đây là các biện pháp lôi kéo khách hàng vì mục đích của việc xây dựng mối quan hệ là đáp ứng những yêu cầu của khách hàng ở mức cao hơn đối thủ cạnh tranh. Thu thập những thông tin có liên quan đến khách hàng Hệ thống CRM như mô tả ở trên phụ thuộc rất nhiều vào cơ sở dữ liệu khách hàng cũng như việc phân tích số liệu và xây dựng mối quan hệ khách hàng. Tuy nhiên, hệ thống CRM gặp phải một thách thức lớn như các hệ thống xử lý thông tin khác là mâu thuẫn giữa mong muốn đáp ứng nhu cầu khách hàng và lượng thông tin cần thu thập xử lý. Việc thu thập thông tin cá nhân của khách hàng cho phép DN hiểu rõ khách hàng hơn và trợ giúp tốt hơn.
Các nguồn thu thập thông tin: 11 Thông tin khách hàng có thể lấy từ rất nhiều nguồn: từ báo cáo chính phủ, từ các hiệp hội thương mại. Nhưng vào những thời điểm khác nhau, doanh nghiệp cần những thông tin khách hàng thích hợp khác nhau như: - Nhóm khách hàng chi nhiều tiền nhất - Nhóm khách hàng lâu dài - Nhóm những khách hàng bỏ sang giao dịch với những doanh nghiệp cạnh tranh Đồng thời doanh nghiệp cũng có thể sử dụng các thông tin về nhân khẩu học như giới tính, thu nhập, tính cách, sở thích, lối sống để xác định mục tiêu sẽ tiếp thị những loại hàng hóa và dịch vụ gì, và tiếp thị như thế nào. Đánh giá hiệu quả Một trong những giá trị lớn nhất mà các hệ thống CRM mang lại cho TC/DN chính là việc đưa ra các đánh giá có liên quan đến khách hàng. Đánh giá hiệu quả được coi là thành phần quan trọng nhất của CRM, thể hiện ở hai góc độ: một là đánh giá hiệu quả mà CRM mang lại cho hoạt động kinh doanh của DN (đánh giá CRM), hai là đánh giá tình trạng hiện tại và xu hướng tương lai để làm cơ sở cho việc đề ra chiến lược kinh doanh và các quyết định ở một thời điểm cụ thể.
Chức năng đánh giá của CRM có nhiều cấp độ, phụ thuộc vào thông tin được cung cấp: từ số liệu thống kê đến số liệu đã được xử lý, từ đánh giá hiện tại đến các dự báo cho tương lai. Tùy nhu cầu của TC/DN mà cấp độ xử lý thông tin cần đạt được của hệ thống CRM được xác định khác nhau với các nội dung: - Hoạch định chính sách của TC/DN đối với các vấn đề có liên quan đến khách hàng. - Hoạt động của các bộ phận trực tiếp tiếp xúc với khách hàng. - Dự báo (ngắn và dài hạn) về thị trường và khách hàng.
Hệ thống CRM trong mỗi TC/DN thường khác biệt nhau, phụ thuộc vào phương pháp, tiêu chí đánh giá, lĩnh vực kinh doanh cũng như việc kết hợp các tiêu chí trong một quyết định. Trên thực tế, áp dụng cùng lúc nhiều phương pháp, tiêu chí 12 đánh giá là giải pháp thường được TC/DN sử dụng để có một cái nhìn toàn diện về khách hàng và thị trường của mình. Các chức năng của CRM CRM chủ yếu quản lý các giao tiếp giữa DN với khách hàng, có mặt trong hầu hết quá trình kinh doanh của DN, cung cấp cho DN các dữ liệu thống kê, phân tích về khách hàng. Như vậy, các hoạt động trong CRM bao gồm những nội dung sau: HỆ THỐNG THÔNG TIN QUẢN TRỊ QUAN HỆ KHÁCH HÀNG Quản lý tổ Quản lý Quản lý Quản lý Quản lý cơ Quản lý Quản lý chức hợp bán hàng tiềm năng hội liên hệ chiến dịch đồng/dự án Hình 4: Các chức năng trong hệ thống CRM 1.