Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG CHỨNG CÁC THỎA THUẬN VỀ TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG 1. KHÁI NIỆM CHUNG VỀ QUYỀN SỞ HỮU TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG 1. Quyền sở hữu tài sản của vợ chồng Quan hệ vợ chồng được hình thành từ sự kiện kết hôn, sự kiện này làm phát sinh quan hệ xã hội gắn liền với nhân thân và tài sản giữa vợ và chồng. Kết hôn còn là một trong các sự kiện làm phát sinh một gia đình, với các chức năng sinh đẻ, giáo dục và chức năng kinh tế.
Sau khi kết hôn, vợ chồng có trách nhiệm chăm sóc cho nhau, cùng nhau chia sẻ việc nuôi dưỡng và giáo dục con cái cũng như thực hiện các giao dịch nhằm đảm bảo các nhu cầu vật chất và tinh thần của gia đình. Để thực hiện được điều này, vợ chồng phải cùng nhau duy trì một khối tài sản chung nhằm nuôi sống và đáp ứng các nhu cầu của các thành viên trong gia đình. Vì vậy, quyền sở hữu tài sản là yếu tố quan trọng để bảo đảm sự tồn tại và phát triển của gia đình. Dưới góc độ pháp lý, "quyền sở hữu là tổng hợp một hệ thống các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực chiếm hữu, sử dụng và định đoạt các tư liệu sản xuất, tư liệu tiêu dùng, những tài sản khác theo quy định tại Điều 163 Bộ luật Dân sự" [63, tr.
Như vậy, quyền sở hữu tài sản của vợ chồng được hiểu là tổng hợp các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành để điều chính các quan hệ xã hội phát sinh trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản của vợ chồng. Quyền sở hữu này bao gồm quyền sở hữu của vợ, chồng đối với tài sản riêng của mỗi bên và quyền sở hữu chung của vợ chồng đối với tài sản chung. Vì vậy, vợ chồng có thể cùng lúc duy trì hai hình thức sở hữu đối với tài sản đó là sở hữu chung đối với tài sản chung của vợ chồng và sở hữu riêng đối với tài sản riêng. Formatted: Vietnamese (Vietnam) Trong thời kỳ hôn nhân, xuất phát từ tính cộng đcồng của quan hệ hôn nhân, đòi hỏi vợ, chồng phải duy trì một khối tài sản chung để đảm bảo các 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhu cầu của vợ, chồng và các thành viên trong gia đình.
Vì vậy, pháp luật cần quy định cơ sở pháp lý để xác lập quyền sở hữu của vợ chồng đối với tài sản chung, là căn cứ để bảo đảm các nhu cầu thiết yếu của gia đình, quyền và lợi ích của các thành viên trong gia đình. Tuy nhiên, ngoài tài sản chung, vợ chồng có thể có tài sản riêng là những tài sản hình thành trước khi kết hôn, khi chưa bị các quan hệ hôn nhân gia đình chi phối hoặc những tài sản được thừa kế, được tặng cho riêng. Mỗi hình thức sở hữu có đặc thù pháp lý riêng biệt, vì vậy, việc xác định quyền sở hữu chung, sở hữu riêng của vợ chồng có ý nghĩa quan trọng đối với việc công chứng các thỏa thuận về tài sản của vợ chồng. Quyền sở hữu của vợ chồng đối với tài sản chung Quyền sở hữu của vợ chồng đối với tài sản chung là một trong các cơ sở pháp lý để bảo đảm giá trị pháp lý của văn bản công chứng thỏa thuận về tài sản của vợ chồng.
Vì vậy, việc CCV xác định đúng quyền sở hữu của vợ chồng đối với tài sản yêu cầu công chứng sẽ góp phần quan trọng trong việc bảo đảm "tính hợp pháp" của văn bản công chứng. Căn cứ xác lập quyền sở hữu của vợ chồng đối với tài sản chung. Theo quy định tại Khoản 1, Điều 27 của LHN&GĐ năm 2000: Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung [46]. Như vậy, việc xác định quyền sở hữu của vợ chồng đối với tài sản chung dựa vào các căn cứ là thời kỳ hôn nhân và nguồn gốc phát sinh tài sản.
- Căn cứ vào thời kỳ hôn nhân. Sau khi kết hôn, vợ chồng cùng chung sống với nhau, cùng nhau tạo dựng tài sản chung và thực hiện các nghĩa vụ tài sản nhằm bảo đảm nhu cầu 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com của vợ chồng và các thành viên trong gia đình, vì vậy, pháp luật cần quy định cơ sở pháp lý để bảo đảm vợ chồng có thể sở hữu chung đối với tài sản trong thời kỳ hôn nhân. "Thời kỳ hôn nhân là khoảng thời gian tồn tại quan hệ vợ chồng, tính từ ngày đăng ký kết hôn đến ngày chấm dứt quan hệ hôn nhân" [46, Điều 8]. Như vậy, ngày đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật là mốc thời gian bắt đầu tính thời kỳ hôn nhân.
Những tài sản mà vợ chồng có được từ ngày đăng ký kết hôn cho đến ngày chấm dứt quan hệ hôn nhân là tài sản chung của vợ chồng (trừ những tài sản được pháp luật quy định là tài sản riêng như được tặng cho riêng, được thừa kế riêng, tài sản có được từ việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân). Trên thực tế, để do điều kiện lịch sử, phong tục tập quán, chiến tranh kéo dài nên rất nhiều trường hợp nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn. Để đảm bảo quyền lợi chính đáng của vợ chồng và các thành viên trong gia đình và góp phần giải quyết tình trạng "hôn nhân thực tế" ở nước ta, đối với các trường hợp nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng trước ngày 03/01/1987 mà không đăng ký kết hôn thì quan hệ vợ chồng của họ vẫn được pháp luật thừa nhận. Điểm a, Mục 3 của Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội về việc thi hành Luật Hôn nhân và gia đình quy định: Trong trường hợp quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 03 tháng 01 năm 1987, ngày Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986 có hiệu lực mà chưa đăng ký kết hôn thì được khuyến khích đăng ký kết hôn; trong trường hợp yêu cầu ly hôn thì được Tòa án thụ lý giải quyết theo quy định về ly hôn của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000.
Theo Mục 1 của Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 03/01/2001 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội về việc thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình quy định: Cần chú ý là trong trường hợp sau khi quan hệ vợ chồng đã được xác lập họ mới thực 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hiện việc đăng ký kết hôn, thì quan hệ vợ chồng của họ vẫn được công nhận kể từ ngày xác lập (ngày họ bắt đầu chung sống với nhau như vợ chồng), chứ không phải là chỉ được công nhận kể từ ngày đăng ký kết hôn. Đây là một trường hợp ngoại lệ của LHN&GĐ năm 2000, trong trường hợp này, thời kỳ hôn nhân không được tính từ ngày đăng ký kết hôn mà được tính từ ngày vợ chồng chung sống với nhau trên thực tế. Như vậy, trong trường hợp nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng trước ngày 03/01/1987 thì tài sản mà họ có được, thu nhập do lao động, sản xuất kinh doanh và các thu nhập hợp pháp khác từ "ngày họ bắt đầu chung sống với nhau như vợ chồng" là tài sản chung của vợ chồng. Ngày chấm dứt quan hệ hôn nhân được xác định dựa vào sự kiện: vợ, chồng chết; quyết định tuyên bố vợ, chồng bị chết của Tòa án có hiệu lực pháp luật; bản án ly hôn, quyết định về ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
Đất đai là một tài sản đặc biệt thuộc sở hữu toàn dân, do vậy, vợ chồng chỉ có quyền sử dụng đất mà không có quyền sở hữu đất. Theo quy định tại Formatted: Vietnamese (Vietnam) Khoản 1 Điều 27 của Luật Đất đai năm 2003LHN&GĐ năm 2000: "Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng. Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn, được thừa kế riêng chỉ là tài sản chung khi vợ chồng có thỏa thuận" [48]. Như vậy, thời kỳ hôn nhân cũng là căn cứ để xác định quyền sử dụng chung của vợ chồng đối với đất đai.
Trong thời kỳ hôn nhân, các tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng được xác định là tài sản chung của vợ chồng. Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp tài sản hình thành trong thời kỳ hôn nhân đều là tài sản chung của vợ chồng. Thời kỳ hôn nhân chỉ là một trong các căn cứ để xác định tài sản chung của vợ chồng. Để xác định chính xác tài sản của vợ, chồng 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com là tài sản chung hay tài sản riêng, CCV còn phải căn cứ vào nguồn gốc phát sinh tài sản của vợ chồng.
- Căn cứ vào nguồn gốc phát sinh tài sản của vợ chồng. Tài sản của vợ chồng có thể được hình thành từ nhiều nguồn gốc khác nhau như từ hoạt động lao động của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, từ sự định đoạt hợp pháp của chủ sở hữu tài sản (tặng cho, thừa kế), từ sự thỏa thuận của vợ chồng hoặc từ nguồn gốc hợp pháp khác được pháp luật thừa nhận. + Hoạt động lao động, sản xuất kinh doanh của vợ chồng là nguồn gốc tạo lập tài sản chủ yếu của vợ chồng. Tài sản được hình thành do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh có thể là tiền lương, phụ cấp, trợ cấp, tiền thưởng, lợi nhận từ đầu tư sản xuất kinh doanh, lợi tức thu được từ việc góp vốn, đầu tư chứng khoán.
Tài sản chung của vợ chồng còn bao gồm những tài sản do vợ chồng "tạo ra" trong thời kỳ hôn nhân.