Chương 1: Cơ sở lí thuyết của đề tài Chương 2: Đặc điểm cấu tạo và nguồn gốc của từ ngữ nghề cá huyện Duyên Hải - tỉnh Trà Vinh Chương 3: Đặc điểm định danh của từ ngữ nghề cá huyện Duyên Hải — tinh Tra Vinh. 10 Chuong 1 CƠ SỞ LÍ THUYẾT CỦA ĐÈ TÀI 1. Những vấn đề chung về từ ngữ. Những vẫn đề chung về từ: a.
Quan niệm về từ tiếng Việt Từ là đơn vị tồn tại hiễn nhiên, sẵn có của ngôn ngữ. Trong ngôn ngữ từ luôn được hiểu như một loại đơn vị cơ bản và chủ yếu nhất của hệ thốngtín hiệu. Tuy thế, từ vẫn không phải là một đơn vị cụ thể mà nó là một loại đơn vị trừu tượng thuộc bình diện hệ thống của ngôn ngữ. de Saussure đã từng nói: "Ngôn ngữ có tính chất kì lạ và đáng kinh ngạc là không có những thực thẻ thoạt nhìn có thể thấy ngay được, thế nhưng người ta vẫn biết chắc là những thực thể đó tôn tại, và chính sự giao lưu giữa những thực thể đó làm thành ngôn ngữ" [37, tr.
Trong số những thực thể đó có rừ. Tính chất thoạt nhìn không thể thấy ngay được của từ khiến việc nhận diện từ gặp nhiều khó khăn. Từ đó ta có thể thấy từ là một trong những yếu tố quan trọng nhất của ngôn ngữ học. Việc tìm ra một định nghĩa chung cho từ của tắt cả các ngôn ngữ là một vấn đề không hề đơn giản.
Các nhà ngôn ngữ học nói chung rất quan tâm nghiên cứu đến từ. Xuất phát từ những cơ sở lý luận và thực tiễn không giống nhau mà các nhà nghiên cứu có những quan niệm chưa thống nhất về từ. Cho đến nay có hơn 300 định nghĩa khác nhau vẻ từ, mỗi khái niệm thiên về một mặt nào đó của từ. Trên thế giới có nhiều các tác giả đưa ra quan điểm, nhận định về Chúng ta có thể kế đến một số tác giả với các nhận định như: F.
cho rằng: *Từ là một đơn vị luôn luôn ám ảnh tư tưởng của ching ta nlue mot cái gì đó trung tâm trong toàn bộ cơ cấu ngôn ngữ.M Xônxev đã định nghĩa từ là một "đơn vị hai mặt (tức là có âm thanh và ý nghĩa) có tính độc lập cú pháp. Độc lập cú pháp được hiểu là: thứ nhất, khả năng của đơn vị ngày có thẻ trở thành "câu tối thiểu tiềm tàng", nghĩa là được sử dụng như câu gầm một từ, và, hai là, khả năng sử dụng trong cái gọi là những vị trí độc lập cú pháp - chủ ngữ và phần danh của vị ngữ" [36, tr.M Xônxev cho rằng cách định nghĩa từ như vậy có thé dùng cho ¢: ngôn ngữ thuộc các loại hình khác nhau. Những đơn vị hai mặt độc lập cú pháp tạo thành câu có trong tit cả các ngôn ngữ. Chúng là những từ theo những thuộc tính khác nhau của chúng (cấu trúc từ vựng - ngữ pháp v.) chúng biến dạng rõ rệt không những từ từ loại hình này sang loại hình khác mà còn từ ngôn ngữ nảy đến ngôn ngữ khác trong phạm vi một loại hình ngôn ngữ.
Định nghĩa này không quan tâm đến tất cả những thuộc tính đó, mà chỉ chú trọng đến những đặc trưng cho từ của tất cả các ngôn ngữ. O Viét Nam, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ cũng dành sự quan tâm đặc biệt trong việc nghiên cứu về từ. Nguyễn Kim Thản quan niệm: "Tir la don vi cơ bản của ngôn ngữ, có thé tách ra khỏi đơn vị khác của lời nói đề vận dung một cách đọc lập và là một khối hoàn chỉnh về ngữ âm, ý nghĩa (từ vựng hoặc. ngữ pháp) và chức năng ngữ pháp" [29, tr.
Nguyễn Thiện Giáp trong công trình “Dẫn luận ngôn ngữ học” cho rằng: “Từ là đơn vị nhỏ nhất của ngôn ngữ, độc lập về hình thức và ý nghĩa” (20, tr. Hay nhóm tác giả công trình “Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt" cho rằng: “Từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa của ngôn ngữ, được vận dụng độc lập, tái hiện tự do trong lời nói để xây dựng nén céu” (17, tr. Khi nghiên cứu đối tượng là sừ, Đỗ Hữu Châu đã nêu lên những đặc điêm của từ: "có hình thức ngữ âm và ngữ. nghĩa; có tính có sẵn, có định, bắt buộc; là những đơn vị thực tại, hiển nhiên của ngôn ngữ (.) là đơn vị lớn nhất của hệ thống ngôn ngữ, nhưng lại là đơn vị nhỏ nhất ở trong câu, là đơn vị trực tiếp nhỏ nhất để tạo câu" [I, tr.
Từ nhận xét này ông đưa ra định nghĩa về từ của tiếng Việt: “Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bắt biển mang những đặc điểm ngữ pháp. 12 nhất định, nằm trong những kiểu câu tạo nhdt dinh, tat ca teng voi mét kiéu ¥ nghĩa nhất định, lớn nhất trong tiếng Việt và nhỏ nhất để tao cau" (11, tr. Do còn nhiều quan niệm khác nhau và cũng không đi sâu bản luận định nghĩa về từ, do vậy chúng tôi chọn quan điểm của tác giả Nguyễn Tài Cẩn về từ trong tiếng Việt làm cơ sở để xác định từ nghề nghiệp: “7ừ là đơn vị nhỏ nhất có thể vận dụng độc lập ở trong câu [09, tr.326] Chúng ta có thể phân biệt từ với các đơn vị khác: Phân biệt với yếu tố. cấu tạo nên từ (đơn vị nhỏ nhất có nghĩa, nhưng không dùng trực tiếp để đặt câu); phân biệt với cụm từ và câu (các đơn vị có nghĩa nhưng không nhỏ nhất).
Như vậy, rõ ràng từ là một thực thể, tồn tại hiển nhiên sẵn có trong. mỗi hệ thống ngôn ngữ với những đặc điểm hình thức, cấu trúc nội tại và có thể có cách biểu thị nội dung (ý nghĩa) khác nhau, được người bản ngữ trì giác (hiện thực về mặt tâm lí). Các kiểu cầu tạo từ tiếng Việt Trên cơ sở tiếng Việt là ngôn ngữ đơn lập, phân tích tính điển hình, chúng tôi sử dụng quan điểm của Nguyễn Tài Cần về đơn vị cấu tạo từ trong. Như vậy, đơn vị cấu tạo từ của từ ngữ nghề nghiệp là tiếng.
trùng với âm tiết và hình vị: “Đơn vị ngữ pháp nhỏ nhất, vừa là hình vị, vừa là âm tiết, có ý nghĩa và có giá trị về mặt hình thái, còn gọi là một tiếng. hình vị, từ tố. Ăn, học, đẹp, cao và sẽ, thức là những tiếng trong tiếng Việt (.) mỗi tiếng như thể chính là một đơn vị gốc ~ một hình vị của ngữ pháp tiếng Liệt, tiắng là đơn vị có đủ cá hai đặc trưng: đơn giản về tổ chức ” và “có giá trị về ngữ pháp” [10, tr. Dựa vào tiêu chí số lượng âm tiết mà Nguyễn Tài Cần chia ra làm hai kiểu loại đơn vị cắp độ từ: từ đơn tiết (từ đơn) và từ ghép.
Từ đơn (hay còn gọi là từ đơn âm tiết) là đơn vị ngôn ngữ chỉ có một tiếng/ âm tiết. Chẳng hạn, só (danh từ, tên một loại dụng cụ, làm bằng sắt, có. mũi nhọn, thường dùng để chạm khắc đá); chẩn (động từ, dùng mũi bạt, hoặc. B mũi xì rô đục sâu thẳng vào đường da định sẵn trên mặt đá đã làm phẳng hoặc tương đối phẳng).
Tir ghép (hay còn gọi là từ phức) là đơn vị có hai tiếng trở lên. Dựa vào quan hệ về ý nghĩa của các thành tố cấu tạo, có thể phân loại từ ghép thành. những đơn vị nhỏ hơn như: Từ ghép đẳng lập (con gọi là từ ghép hợp nghĩa, từ ghép láy nghĩa) là đơn vị ngôn ngữ mà thành tố cấu tạo có vai trò bình đẳng với nhau và có ý. Những từ ngữ nảy biểu thị ý nghĩa khái quát hoặc ý nghĩa tổng hợp: đểo gọr (động từ, đềo và gọt nói tổng quát), sứr gãy (tính từ, vừa sút vừa gãy, nói tổng quát).
Từ ghép chính phụ (còn gọi là từ ghép phân nghĩa hay từ ghép phụ nghĩa) là những từ ghép có một thành tố làm nòng cốt và một thành tố khác. làm thành tố phụ [10]. Trong loại từ ghép này, thành tố trung tâm thường mang nghĩa chỉ loại và thành tố phụ có vai trò chuyên biệt hóa, sắc thái hóa. cho thành tố chính.
Chẳng hạn, zhợ mã, (từ ngữ nghề làm lồng đèn Hội An), thợ nguội, thợ hầm (nghề chạm khắc đá). Từ ngẫu hợp là những đơn vị ngôn ngữ có các thành tố trực tiếp, kết hợp với nhau không dựa trên cơ sở quan hệ ý nghĩa, không dựa trên quan hệ ngữ âm [10], chẳng hạn như các trường hợp: đớp lai, tóm phát, bùi nhài. và những từ ngữ vay mượn nhu axit, a pa tit. duge DS Hitu Châu xếp vào dạng.
Tuy nhiên, trong luận văn này chúng tôi tạm xếp những từ ngữ vay mượn vào nhóm những từ ngẫu hợp (theo quan điểm của Nguyễn Tài Cân) để thuận tiện cho việc phân loại và miêu tả từ ngữ nghề nghiệp là từ ghép trong luận văn. Từ láy/ dạng láy (hay còn gọi là từ láy âm) là từ mà các thành tố trực tiếp được kết hợp với nhau chủ yếu theo quan hệ ngữ âm [15], chẳng hạn như: sit sao, the thé 4 e. Mô hình cầu tạo từ tiếng Việt Nói về cấu tạo từ là phải phân tích thành phẩ cấu tạo của từ để thấy nó, được cấu tạo bằng những thành tố nào và phương thức tổ chức nào. thức cấu tạo từ là cách thức mà ngôn ngữ tác động vào đơn vị cấu tạo từ để cho ta các từ.
“Trong tiếng Việt, từ được tạo thành chủ yếu theo các phương thức sau: - Từ hoá hình vị là phương thức tạo từ bằng cách tác động vào bảnthân. một hình vị (tiếng). làm cho nó có những đặc điểm ngữ pháp và ý nghĩa của từ, biến hình vị thành từ mà. không thêm bớt gì cả vào hình thức của nó.
Ví dụ, các từ: bàn, cây, ăn, tốt, mì chính, lắp, cá, búp, cành, đốn. được cẫu tạo bằng. phương thức từ hoá hình vị. ~ Ghép là phương thức tác động vào hai hoặc hơn hai tiếng có nghĩa, kết hợp chúng với nhau để sản sinh ra một từ mới mang đặc điểm ngữ pháp và ý' nghĩa như một từ.
Ví dụ, phương thức ghép tác động vào các tiếng nhà, cửa tạo thành từ ghép nhà cửa, tác động vào các tiếng sản, bay để tạo thành từ ghép sản bay. Mô hình của phương thức ghép là: Tiếng A, B *3 từ ghép AB. ~ Láy là phương thức tác động vào một tiếng cơ sở làm xuất hiện một tiếng láy giống tiếng cơ sở toàn bộ hay bộ phận vẻ âm thanh. Cả tiếng cơ sở và.
tiếng lầy tạo thành một từ láy.