Nghiên cứu ứng xử của dầm chuyển bê tông cốt thép gia cường bằng sợi thép

Nghiên cứu ứng xử của dầm chuyển bê tông cốt thép gia cường bằng sợi thép, phân tích hiệu quả và ứng dụng trong xây dựng hiện đại.

Chuyên ngành

Kỹ thuật Xây dựng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn

2021

108
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

TÓM TẮT

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Khái niệm về dầm chuyển

1.2. Lý thuyết tính toán

1.3. Lịch sử phát triển lý thuyết tính toán dầm cao

1.4. Ứng dụng dầm chuyển BTCT trong xây dựng

1.5. Các loại dầm chuyển BTCT

1.6. Một số công trình sử dụng kết cấu dầm chuyển

1.6.1. Trên thế giới

1.7. Tổng quan về bê tông cốt sợi thép và dầm bê tông cốt sợi thép

1.7.1. Sơ lược về bê tông cốt sợi thép

1.7.2. Tính chất của bê tông cốt sợi thép

1.7.3. Các nghiên cứu khoa học về dầm bê tông cốt sợi thép

1.8. Sự cần thiết thực hiện đề tài

1.9. Mục tiêu nghiên cứu

1.10. Phạm vi và phương pháp nghiên cứu

1.11. Tính mới của đề tài

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT TÍNH TOÁN

2.1. Cơ sở lý thuyết về tính toán dầm chuyển

2.2. Tính toán theo tiêu chuẩn ACI 318-2002

2.3. Phá hoại do uốn

2.4. Phá hoại do cắt

2.5. Khả năng chịu lực gối tựa

2.6. Phá hoại cục bộ dưới tác dụng của tải trọng tập trung

2.7. Trạng thái giới hạn sử dụng

2.8. Mô hình thanh chống - giằng

2.9. Phân vùng ứng suất biến dạng của các cấu kiện dầm chuyển

2.10. Các bước tính toán mô hình giàn ảo theo tiêu chuẩn ACI 318-2002

2.11. Cơ sở lý thuyết về bê tông cốt sợi và dầm bê tông cốt sợi

2.11.1. Khái niệm về không gian

2.11.2. Khái niệm Composite

2.11.3. Cơ sở lý thuyết về phương pháp PTHH sử dụng trong phần mềm ABAQUS/CAE

2.11.4. Tính toán thông số mô hình vật liệu của bê tông cho mô phỏng ABAQUS

2.11.5. Mô hình số đường cong ứng suất – biến dạng chịu nén của bê tông

2.11.6. Mô hình số đường cong ứng suất - biến dạng chịu kéo của bê tông

2.11.7. Thông số mô đun đàn hồi, hệ số Poisson

2.11.8. Mô hình vật liệu thép trong mô phỏng

2.11.9. Thông số mô hình phá hoại dẻo trong mô phỏng ABAQUS

3. NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM TRÊN DẦM CAO BÊ TÔNG CỐT THÉP GIA CƯỜNG BẰNG SỢI THÉP

3.1. Công tác thí nghiệm

3.2. Nhiệm vụ thí nghiệm

3.3. Nguyên vật liệu sử dụng

3.4. Quy trình đúc dầm

3.5. Dụng cụ thí nghiệm

3.6. Quy trình thí nghiệm uốn dầm cao theo phương pháp uốn 3 điểm

3.7. Kết quả thí nghiệm

3.7.1. Kết quả nén, uốn mẫu để xác định cường độ chịu nén, chịu kéo khi uốn của bê tông

3.7.2. Kết quả đo chuyển vị giữa dầm theo lực tác động

3.7.3. Tải trọng gây xuất hiện vết nứt trên dầm cao

3.7.4. Nhận xét, đánh giá kết quả thực nghiệm

3.7.4.1. Về cường độ chịu nén, chịu kéo của bê tông khi gia cường sợi thép
3.7.4.2. Về chuyển vị tại vị trí giữa dầm khi thí nghiệm uốn 3 điểm dầm cao
3.7.4.3. Về sự hình thành và phát triển vết nứt khi uốn dầm cao

4. NGHIÊN CỨU MÔ PHỎNG ỨNG XỬ CỦA DẦM CHUYỂN BTCT GIA CƯỜNG BẰNG SỢI THÉP

4.1. Tính toán thông số đầu vào cho mô phỏng

4.2. Đặc trưng cơ học của bê tông. Thông số mô hình vật liệu thép. Phân tích mô phỏng ABAQUS

4.3. Xây dựng cấu kiện dầm chuyển

4.4. Xây dựng gối tựa và gối gia tải

4.5. Xây dựng cốt đai

4.6. Xây dựng cốt thép dọc

4.7. Định nghĩa vật liệu

4.8. Định nghĩa thuộc tính mặt cắt ngang

4.9. Gán thuộc tính mặt cắt cho cấu kiện

4.10. Định nghĩa lắp ghép cấu kiện

4.11. Liên kết giữa cốt thép chịu lực và bê tông

4.12. Liên kết giữa điểm đặt lực và dầm bê tông

4.13. Liên kết giữa gối đỡ, gối gia tải với dầm bê tông

4.14. Định nghĩa tải trọng và điều kiện biên

4.15. Chia lưới cho cấu kiện dầm

4.16. Thiết lập các bước phân tích

4.17. Công tác phân tích

4.18. Kết quả mô phỏng và so sánh giữa kết quả mô phỏng với kết quả nghiên cứu thực nghiệm

4.18.1. Hướng nghiên cứu so sánh

4.18.2. Kết quả mô phỏng dầm cao

4.18.3. Ứng dụng mô hình mô phỏng một dầm chuyển trong công trình thực tế

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu dầm chuyển bê tông cốt thép gia cường sợi thép

Nghiên cứu về dầm chuyển bê tông cốt thép gia cường bằng sợi thép đang trở thành một lĩnh vực quan trọng trong ngành xây dựng. Dầm chuyển có vai trò quyết định trong việc phân phối tải trọng và đảm bảo tính ổn định cho các công trình cao tầng. Việc gia cường bằng sợi thép không chỉ giúp tăng cường khả năng chịu lực mà còn giảm thiểu kích thước dầm, từ đó tối ưu hóa không gian sử dụng. Nghiên cứu này sẽ phân tích các khía cạnh quan trọng liên quan đến ứng xử của dầm chuyển trong điều kiện thực tế.

1.1. Khái niệm và vai trò của dầm chuyển trong xây dựng

Dầm chuyển là một loại kết cấu có độ cứng lớn, giúp thay đổi trạng thái làm việc của hệ kết cấu từ dầm cột sang dầm vách. Chúng thường được sử dụng trong các tòa nhà cao tầng để chịu tải trọng lớn và phân phối lực xuống các cột phía dưới. Việc hiểu rõ về khái niệm này là rất quan trọng để áp dụng hiệu quả trong thiết kế và thi công.

1.2. Tại sao cần gia cường dầm chuyển bằng sợi thép

Việc gia cường dầm chuyển bằng sợi thép giúp tăng cường độ bền và khả năng chịu lực của dầm. Sợi thép phân bố ngẫu nhiên trong bê tông giúp giảm thiểu sự hình thành và phát triển vết nứt, từ đó nâng cao hiệu quả sử dụng của dầm. Nghiên cứu này sẽ chỉ ra những lợi ích cụ thể của việc gia cường này.

II. Vấn đề và thách thức trong nghiên cứu dầm chuyển bê tông cốt thép

Mặc dù dầm chuyển bê tông cốt thép gia cường bằng sợi thép mang lại nhiều lợi ích, nhưng vẫn tồn tại một số thách thức trong quá trình nghiên cứu và ứng dụng. Các vấn đề như tải trọng tập trung, sự hình thành vết nứt và khả năng chịu lực của dầm cần được phân tích kỹ lưỡng.

2.1. Tải trọng và ứng suất trong dầm chuyển

Dầm chuyển thường phải chịu tải trọng lớn từ các cột và vách phía trên. Việc phân tích tải trọng và ứng suất là rất quan trọng để đảm bảo an toàn cho công trình. Nghiên cứu sẽ chỉ ra cách thức tính toán và phân tích ứng suất trong dầm chuyển.

2.2. Sự hình thành và phát triển vết nứt trong dầm

Sự hình thành vết nứt là một trong những vấn đề nghiêm trọng trong dầm chuyển. Nghiên cứu sẽ tập trung vào các nguyên nhân gây ra vết nứt và cách thức gia cường để giảm thiểu vấn đề này, từ đó nâng cao tuổi thọ của dầm.

III. Phương pháp nghiên cứu dầm chuyển bê tông cốt thép gia cường sợi thép

Nghiên cứu này sử dụng các phương pháp thí nghiệm và mô phỏng số để phân tích ứng xử của dầm chuyển. Việc kết hợp giữa thí nghiệm thực tế và mô phỏng giúp đưa ra những kết luận chính xác và đáng tin cậy.

3.1. Thí nghiệm uốn 3 điểm trên dầm cao

Thí nghiệm uốn 3 điểm được thực hiện trên các mẫu dầm có và không có gia cường bằng sợi thép. Kết quả từ thí nghiệm này sẽ cung cấp thông tin quan trọng về khả năng chịu lực và sự hình thành vết nứt trong dầm.

3.2. Mô hình mô phỏng số bằng phần mềm ABAQUS CAE

Mô hình mô phỏng số được xây dựng bằng phần mềm ABAQUS/CAE giúp phân tích ứng xử của dầm chuyển trong các điều kiện khác nhau. Phương pháp này cho phép dự đoán chính xác khả năng chịu lực và sự phát triển của vết nứt trong dầm.

IV. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn dầm chuyển

Kết quả nghiên cứu cho thấy việc gia cường dầm chuyển bằng sợi thép mang lại nhiều lợi ích về khả năng chịu lực và giảm thiểu vết nứt. Những ứng dụng thực tiễn từ nghiên cứu này có thể được áp dụng trong các công trình xây dựng hiện đại.

4.1. Kết quả thí nghiệm và phân tích

Kết quả từ thí nghiệm cho thấy dầm chuyển gia cường bằng sợi thép có khả năng chịu lực tốt hơn so với dầm không gia cường. Phân tích này sẽ được trình bày chi tiết trong phần này.

4.2. Ứng dụng trong các công trình xây dựng

Nghiên cứu này không chỉ có giá trị lý thuyết mà còn có thể áp dụng trong thực tiễn xây dựng. Các công trình cao tầng có thể áp dụng phương pháp gia cường này để tối ưu hóa thiết kế và thi công.

V. Kết luận và hướng phát triển tương lai cho dầm chuyển bê tông cốt thép

Nghiên cứu về dầm chuyển bê tông cốt thép gia cường bằng sợi thép đã chỉ ra nhiều lợi ích và tiềm năng ứng dụng trong ngành xây dựng. Hướng phát triển tương lai sẽ tập trung vào việc cải tiến công nghệ và vật liệu để nâng cao hiệu quả sử dụng.

5.1. Tóm tắt kết quả nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu đã khẳng định tính khả thi và hiệu quả của việc gia cường dầm chuyển bằng sợi thép. Những phát hiện này sẽ được tóm tắt và phân tích trong phần này.

5.2. Hướng nghiên cứu tiếp theo

Hướng nghiên cứu tiếp theo sẽ tập trung vào việc phát triển các loại vật liệu mới và cải tiến phương pháp gia cường để nâng cao khả năng chịu lực và độ bền của dầm chuyển.

22/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đặt vấn đề Hiện nay, các tòa nhà cao tầng tại các đô thị lớn có nhu cầu tăng tối đa hiệu quả sử dụng mặt bằng với hệ số sử dụng đất cao, đa dạng về công năng, kết hợp nhiều loại hình dịch vụ. Các khu dưới của tòa nhà thường sử dụng làm bãi đậu xe, trung tâm thương mại, vườn treo hoặc các không gian mở, trong khi đó các tầng phía trên thường là các căn hộ và văn phòng với hệ kết cấu cột vách phân chia không gian sử dụng. Cấu trúc này đòi hỏi phải có một kết cấu chuyển bố trí giữa khu trên và khu dưới của tòa nhà cao tầng; là một kết cấu chịu uốn/cắt có khả năng vượt nhịp lớn, dùng để chịu tải trọng từ cột hay vách phía trên, sau đó phân phối lại, truyền xuống hệ kết cấu cột phía dưới. Trong nhà cao tầng hệ kết cấu chuyển có thể ở dưới dạng dầm chuyển, giàn, vòm hay dầm có thêm gối đỡ ở giữa.

Do yêu cầu kết cấu chuyển phải có khả năng vượt nhịp và chịu tải trọng lớn nên loại kết cấu này thường có độ cứng và kích thước hình học (chiều cao, bề rộng tiết diện) lớn hơn so với các kết cấu truyền thống [1]. Đối với kết cấu chuyển dưới dạng là vòm hay dầm có thêm gối đỡ ở giữa khi sử dụng sẽ gây chia cắt không gian ở bên trong công trình, không đáp ứng được yêu cầu về công năng sử dụng và tính thẩm mỹ, đặc biệt là yêu cầu cần có một không gian rộng để bố trí sảnh đón ở phía dưới kết cấu chuyển. Đối với kết cấu chuyển sử dụng dạng giàn thép có ưu điểm là khả năng vượt được nhịp lớn, nhưng để chịu được tải trọng lớn của hệ thống cột, sàn ở phía trên đòi hỏi phải có một hệ kết cấu giàn thép có kích thước rất lớn, dẫn đến việc thiết kế và thi công phức tạp, chi phí đầu tư cao. Vì vậy, trên thực tế người ta thường dùng kết cấu chuyển là dầm BTCT.

Ở các tòa nhà lớn, nếu sử dụng bê tông cốt thép thông thường thì để đảm khả năng chịu lực 1 và vượt nhịp, kích thước dầm chuyển thường khá lớn (chiều cao dầm có khi đạt đến 2,5m), gây ra các khó khăn về kiến trúc, thẩm mỹ và biện pháp thi công. Do đó, yêu cầu cần có giải pháp gia cường cho dầm chuyển bê tông cốt thép (như sử dụng bê tông cốt sợi thép, bê tông cốt thép dự ứng lực…) để tăng cường khả năng chịu lực và giảm chiều cao dầm chuyển. Tổng quan về dầm chuyển 1. Khái niệm về dầm chuyển Dầm chuyển BTCT là một loại dầm có độ cứng và tiết diện hình học tương đối lớn, có tác dụng thay đổi trạng thái làm việc của hệ kết cấu từ hệ dầm cột chịu lực sang hệ dầm vách chịu lực hoặc hệ dầm cột nhưng với số lượng cột phía trên dầm nhiều hơn số lượng cột phía dưới dầm [1].

Lý thuyết tính toán Cấu kiện dầm chịu uốn được nghiên cứu và tính toán với hai thông số đặc trưng: chiều cao tiết diện và nhịp dầm. Sự làm việc của dầm (dầm thông thường hay dầm cao) thường phụ thuộc vào tỷ lệ giữa chiều cao và nhịp của dầm hoặc tỷ số giữa nhịp chịu cắt của dầm (khoảng cách từ gối tựa đến điểm đặt lực tập trung) với chiều cao tiết diện dầm. Trong cấu kiện BTCT đối với cấp tải trọng thông thường, tiết diện hình học của dầm được lựa chọn sơ bộ thông qua tỷ lệ giữa chiều cao và nhịp của dầm thường khoảng từ 1 : 12 đến 1 : 8 đối với dầm chính và 1 : 20 đến 1 : 12 đối với dầm phụ [2]. Các dầm này được xem là dầm thông thường và việc tính toán loại cấu kiện này được tiến hành theo các lý thuyết quen thuộc của kết cấu BTCT, dựa trên cơ sở chấp nhận một số giả thiết của sức bền vật liệu.

Như đã đề cập, kết cấu dầm chuyển có các đặc điểm là chịu tác dụng của tải trọng lớn, dẫn đến chiều cao dầm là khá lớn, tỷ lệ giữa nhịp dầm và chiều cao tiết diện nhỏ hơn so với dầm thông thường. Với loại dầm này, sự phân bố ứng suất và biến dạng trên mặt cắt dầm có những thay đổi khác hơn so với kết cấu dầm chịu uốn thông thường. Do đó, việc tính toán dầm chuyển (transfer beam) được dựa trên lý thuyết của 2 tính toán của dầm cao (deep beam) và đã được chấp nhận, áp dụng trong tiêu chuẩn thiết kế của một số nước trên thế giới. Do đó, trong Luận văn này, việc tính toán thiết kế cấu kiện dầm chuyển BTCT chủ yếu áp dụng các phương pháp tính toán dầm cao BTCT.

Lịch sử phát triển lý thuyết tính toán dầm cao (Deep beam) Lý thuyết tổng quan về tính toán dầm cao BTCT đã được trình bày và tổng kết bởi Albritton (năm 1965) [3], Hiệp hội Xi măng và Bê tông (C&CA, năm 1969) [4], Hiệp hội Nghiên cứu và Thông tin Công nghệ Xây dựng (CIRIA, năm 1977) [5]. Sau đó đã được nghiên cứu bổ sung bởi Tang và Wong (năm 1987) [6], Chemrouk (năm 1988) [7]. Những nghiên cứu đầu tiên này chủ yếu xem xét các dầm cao làm việc trong giai đoạn đàn hồi. Ngày nay các nghiên cứu dựa trên mô hình đàn hồi dễ dàng được thực hiện bằng phương pháp sai phân hữu hạn và phần tử hữu hạn.

Tuy nhiên, một bất lợi quan trọng của nghiên cứu dựa trên mô hình đàn hồi là phải các giả thiết về vật liệu đồng chất, đẳng hướng và tuân theo định luật Hooke. Do đó, khó có hướng dẫn đầy đủ cho việc thiết kế trong thực tế khi vật liệu có thể hoạt động ở trạng thái phi đàn hồi hoặc tới hạn (phá hủy). Vì vậy, cần phải tiến hành các nghiên cứu có xét đến trạng thái phi đàn hồi(đặc biệt là các dạng hay cơ chế phá hoại) của dầm cao, trong đó cách nghiên cứu tốt nhất là nghiên cứu thực nghiệm. Trong những thập niên 1960, hệ thống có thể thí nghiệm đến tải trọng giới hạn được thử nghiệm bởi Paiva và Siess [8], Loenhardt và Walther [9].

Những thử nghiệm này đã đạt được bước tiến lớn trong việc nghiên cứu về dầm cao. Từ cuối những năm 1960, một chương trình dài hạn đã được khởi xướng và hiện vẫn tiếp tục được nghiên cứu bởi Giáo sư F.Kong, Giáo sư Khoa Kết cấu công trình dân dụng tại Đại học Newcastle-upon-Tyne [10], tiến hành thí nghiệm phá hoại trên hơn 490 dầm cao, trong đó bao gồm các mẫu dầm có trọng lượng lên đến 4,5 T (Hình 1. Thí nghiệm trên một dầm cao kích thước lớn [10] Nghiên cứu dầm cao sử dụng khái niệm dẻo đã được báo cáo bởi Nielsen [11], Braestrup và Nielsen [12]. Năm 1971, nghiên cứu của Kong và Evans [13] chỉ ra rằng cốt thép bố trí xiên trong sườn dầm đã đạt hiệu quả đối với dầm cao.

Năm 1973, Kong và Sharp [14] đã tìm ra cường độ và cách thức phá hoại của dầm cao có thêm lỗ mở, từ đó đã đề xuất công thức tính toán tải trọng giới hạn, sau đó đã được chỉnh sửa lại vào những năm 1977 và 1978. Cũng trong năm 1973, Robins và Kong [15] sử dụng phương pháp phần tử hữu hạn dự đoán tải trọng giới hạn và sự hình thành các vết nứt trong dầm cao. Đến năm 1974, Kong và Singh [16] đã nghiên khả năng làm việc và sự phá hoại của dầm cao dưới tác dụng của tải trọng lặp. Năm 1982, Garcia là một trong những người đầu tiên thực hiện các thí nghiệm về sự mất ổn định trên một loạt các dầm cao bê tông có độ mảnh lớn [17], sau đó đã được Kong và cộng sự tiếp tục thí nghiệm vào năm 1986 [18].

Năm 1987, Mau và Hsu áp dụng các lý thuyết mô hình giàn để tính toán cho dầm cao [19]. Năm 1988, Kotsovos [20] đã cơ bản nghiên cứu toàn diện dầm cao ở trạng thái tới hạn (phá hủy) 4 với nguyên nhân cơ bản là sự phá hoại do cắt. Ứng dụng dầm chuyển BTCT trong xây dựng 1. Các loại dầm chuyển BTCT Trong xây dựng thông thường có 2 loại dầm chuyển dưới dạng BTCT: dầm thường và dầm ứng lực trước.

Dầm chuyển BTCT thường là dầm chuyển được chế tạo bằng BTCT truyền thống. Dầm chuyển ứng lực trước là dầm chuyển được chế tạo bằng BTCT kết hợp với cốt thép cường độ cao được kéo căng (có thể kết hợp với cốt thép thường) để tạo ứng suất trước trong bê tông. Một số công trình sử dụng kết cấu dầm chuyển 1. Trên thế giới.

Trên thế giới dầm chuyển BTCT đã được sử dụng nhiều để vượt các không gian lớn trong các tòa nhà cao tầng đa chức năng tại các thành phố lớn của Mỹ, Hong Kong, Malaysia, Singapore, Thái Lan v. Một số hình ảnh kết cấu dầm chuyển BTCT được thi công ở Mỹ, Malaysia, Thái Lan (Hình 1. Dầm chuyển của tòa nhà The Legacy tại Millennium Park - Mỹ. Công nhân thi công dầm chuyển - Tòa nhà Grand Hyatt - Malaysia.

Dầm chuyển của tòa nhà Ideo Morph - Thái Lan. Lắp đặt cốt thép dầm chuyển The Issara Ladprao - Thái Lan. Ở Việt Nam Có thể nói hệ dầm chuyển thuộc lớp đầu tiên tại Việt Nam được áp dụng trong tòa nhà Khách sạn Melia Hà Nội từ những năm 1997. Khi bố trí khu hội trường, nhà hàng ở tầng 1 và 2 của khu phức hợp khách sạn, đơn vị tư vấn thiết kế đã sử dụng hệ dầm chuyển để vượt nhịp lớn.

Tại thời điểm này các dạng kết cấu dầm chuyển còn ít được sử dụng ở nước ta. Năm 2003, tòa nhà 34 tầng tại Khu đô thị Trung Hoà- Nhân Chính- Hà Nội cũng sử dụng giải pháp kết cấu dầm chuyển. Với chiều cao công trình lên đến 136m, dầm chuyển được đặt ở tầng kỹ thuật với kích thước chiều rộng b = 1800 -2700 mm, chiều cao h = 2150mm, sàn dày 300 mm. Khối lượng bêtông hơn 3.500m3, dầm sàn bê tông liền khối đổ một lần không để mạch ngừng.

Công trình: Toà nhà Donphin Plaza (Mỹ Đình, Từ Liêm, Hà Nội) gồm 4 toà tháp cao 28 tầng, chia thành 2 khối, được nối với nhau bởi khối đế 3 tầng. Các đơn vị tư vấn là Công ty DP Architects (Singapore) và Công ty Tư vấn Đại học Xây dựng Hà Nội sử dụng dầm chuyển ứng lực trước có chiều cao 3m vượt nhịp lớn nhất là 7 28,4 m đặt ở sàn tầng 4 (cao độ + 32,125 m). Thi công dầm chuyển tòa nhà Donphin Plaza – Hà Nội [25] Ở các thành phố lớn như thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, nhiều công trình sử dụng hệ dầm - sàn chuyển, như dự án Kenton (thành phố Hồ Chí Minh) hay khách sạn Hilton (Đà Nẵng), v.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ