Nghiên cứu ứng dụng vụn bê tông thay thế đá tự nhiên - Lê Ngọc Phương Thanh

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ứng dụng vụn bêtông thay thế đá tự nhiên trong hỗn hợp bêtông. Phân tích hiệu quả kinh tế và môi trường của giải pháp tái chế vật

Trường đại học

Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2018

82
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về ứng dụng vụn bêtông thay thế đá tự nhiên trong bêtông

Bêtông là vật liệu xây dựng phổ biến nhất thế giới nhờ độ bền cao, chi phí hợp lý và khả năng ứng dụng rộng rãi. Tuy nhiên, sản xuất bêtông tiêu tốn lượng lớn tài nguyên thiên nhiên như đá, cát và xi măng. Vụn bêtông từ phá dỡ công trình trở thành nguồn phế thải lớn, gây áp lực lên môi trường nếu không được tái sử dụng. Nghiên cứu ứng dụng vụn bêtông thay thế một phần đá tự nhiên trong hỗn hợp bêtông nhằm giải quyết hai vấn đề: giảm khai thác tài nguyên và giảm thiểu chất thải xây dựng. Phương pháp này tận dụng ưu điểm của vật liệu tái chế, góp phần phát triển nền kinh tế tuần hoàn trong ngành xây dựng. Nhiều quốc gia đã áp dụng thành công, nhưng tại Việt Nam, ứng dụng còn hạn chế do thiếu nghiên cứu thực nghiệm và tiêu chuẩn kỹ thuật cụ thể.

1.1. Đặc điểm và tính chất của vụn bêtông tái chế

Vụn bêtông tái chế là sản phẩm nghiền nát từ bêtông cũ, có kích thước hạt đa dạng từ 5mm đến 40mm. Độ hút nước của vụn bêtông thường cao hơn đá tự nhiên do lớp vữa bám trên bề mặt hạt, ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ lệ nước/xi măng trong hỗn hợp. Cường độ chịu nén của vụn bêtông thấp hơn đá tự nhiên khoảng 10-30%, phụ thuộc vào nguồn gốc và quy trình tái chế. Khối lượng thể tích của vụn bêtông dao động từ 2200-2400 kg/m³, thấp hơn đá tự nhiên nhưng vẫn đảm bảo khả năng chịu lực nhất định. Đặc biệt, vụn bêtông có khả năng hấp thụ nhiệt tốt hơn, phù hợp cho các công trình yêu cầu cách nhiệt.

1.2. Tiềm năng tái sử dụng vụn bêtông trong ngành xây dựng

Việt Nam thải ra khoảng 12 triệu tấn phế thải xây dựng mỗi năm, trong đó bêtông chiếm tỷ lệ lớn. Việc tái sử dụng vụn bêtông không chỉ giảm chi phí xử lý chất thải mà còn tiết kiệm chi phí nguyên vật liệu. Theo nghiên cứu, thay thế 20-30% đá tự nhiên bằng vụn bêtông có thể giảm 15-20% chi phí sản xuất bêtông. Đặc biệt, tại các đô thị lớn như TP.HCM, nhu cầu sử dụng bêtông cao nhưng nguồn đá tự nhiên ngày càng khan hiếm. Vụn bêtông có thể ứng dụng trong sản xuất bêtông khối, nền móng, hoặc làm lớp lót móng đường, mang lại hiệu quả kinh tế và môi trường.

II. Phân tích tác động của vụn bêtông đến chất lượng bêtông

Sử dụng vụn bêtông thay thế đá tự nhiên ảnh hưởng trực tiếp đến các đặc tính cơ học của bêtông như cường độ chịu nén, độ bền kéo, và khả năng chống thấm. Cường độ chịu nén giảm khi tỷ lệ thay thế tăng, do độ bám dính giữa xi măng và vụn bêtông kém hơn đá tự nhiên. Theo thí nghiệm, thay thế 30% đá bằng vụn bêtông có thể giảm cường độ 10-15%, nhưng vẫn đạt yêu cầu cho nhiều công trình dân dụng. Độ bền kéo giảm nhẹ trong khi khả năng chống thấm cải thiện nhờ cấu trúc rỗng của vụn bêtông. Đặc biệt, bêtông sử dụng vụn bêtông có khả năng chống cháy tốt hơn do không chứa các vật liệu hữu cơ. Tuy nhiên, độ co ngót tăng lên do vụn bêtông hấp thụ nhiều nước hơn, đòi hỏi điều chỉnh tỷ lệ nước/xi măng phù hợp.

2.1. Ảnh hưởng đến cường độ chịu nén của bêtông

Cường độ chịu nén là chỉ tiêu quan trọng nhất khi đánh giá chất lượng bêtông. Vụn bêtông có cường độ bản thân thấp hơn đá tự nhiên, dẫn đến giảm cường độ chung của hỗn hợp. Nghiên cứu cho thấy, khi thay thế 20% đá bằng vụn bêtông, cường độ giảm 5-8%. Tỷ lệ thay thế 30% có thể giảm 10-15%, nhưng vẫn đạt mác bêtông M25-M30 phù hợp cho nhà dân dụng. Để khắc phục, cần tăng tỷ lệ xi măng hoặc sử dụng phụ gia siêu dẻo. Ngoài ra, kích thước hạt vụn bêtông cũng ảnh hưởng: hạt nhỏ (<10mm) ít ảnh hưởng hơn hạt lớn (>20mm).

2.2. Độ bền lâu và khả năng chống thấm

Vụn bêtông có cấu trúc xốp hơn đá tự nhiên, giúp cải thiện khả năng chống thấm nhờ khả năng hấp thụ và thoát nước. Tuy nhiên, độ bền lâu bị ảnh hưởng bởi độ hút nước cao của vụn bêtông, dẫn đến nguy cơ nứt do co ngót. Để nâng cao độ bền, cần kiểm soát chặt chẽ tỷ lệ nước/xi măng và sử dụng phụ gia chống co ngót. Ngoài ra, vụn bêtông dễ bị phân hủy trong môi trường axit, do đó không phù hợp cho các công trình tiếp xúc với hóa chất. Việc bảo dưỡng ẩm trong 7-14 ngày sau đổ bêtông giúp hạn chế rủi ro nứt do co ngót.

III. Phương pháp nghiên cứu ứng dụng vụn bêtông trong bêtông

Phương pháp nghiên cứu bao gồm thu thập mẫu vụn bêtông từ các công trình phá dỡ, phân tích thành phần hóa học và cơ lý. Hỗn hợp bêtông được thiết kế theo tiêu chuẩn TCVN 3105:1993, với tỷ lệ thay thế đá tự nhiên bằng vụn bêtông từ 0% đến 50%. Các thí nghiệm được tiến hành để đánh giá cường độ chịu nén, độ bền kéo, khả năng chống thấm, và độ co ngót. Kết quả được so sánh với bêtông truyền thống để xác định tỷ lệ thay thế tối ưu. Phần mềm phân tích như SPSS được sử dụng để xử lý số liệu thống kê. Ngoài ra, khảo sát thực tế tại các công trình sử dụng vụn bêtông cũng được thực hiện để đánh giá hiệu quả kinh tế và môi trường. Phương pháp này đảm bảo tính khoa học và thực tiễn của nghiên cứu.

3.1. Quy trình thí nghiệm xác định cường độ bêtông

Thí nghiệm cường độ chịu nén được thực hiện trên mẫu lập phương kích thước 150x150x150mm theo TCVN 3118:1993. Mẫu được bảo dưỡng trong điều kiện tiêu chuẩn (20±2°C, độ ẩm 95%) trong 28 ngày trước khi thí nghiệm. Máy nén thủy lực được sử dụng để đo tải trọng phá hủy. Kết quả thí nghiệm cho thấy, cường độ chịu nén giảm dần khi tỷ lệ thay thế tăng. Tại tỷ lệ 30% vụn bêtông, cường độ đạt 70-80% so với bêtông truyền thống. Để đảm bảo chất lượng, cần kiểm soát chất lượng vụn bêtông đầu vào, loại bỏ tạp chất như gỗ, nhựa, kim loại.

3.2. Đánh giá hiệu quả kinh tế và môi trường

Sử dụng vụn bêtông thay thế đá tự nhiên giúp giảm chi phí nguyên vật liệu từ 10-20% tùy thuộc vào tỷ lệ thay thế. Chi phí xử lý phế thải xây dựng cũng được cắt giảm đáng kể. Theo tính toán, mỗi m³ bêtông sử dụng 30% vụn bêtông tiết kiệm khoảng 150.000-200.000 VND so với bêtông truyền thống. Mặt khác, giảm khai thác đá tự nhiên góp phần bảo vệ môi trường, giảm phát thải CO₂ từ 5-10% trong quá trình sản xuất xi măng. Đánh giá vòng đời sản phẩm (LCA) cho thấy, bêtông sử dụng vụn bêtông có dấu chân carbon thấp hơn 15-20%.

IV. Kết luận và khuyến nghị ứng dụng vụn bêtông trong xây dựng

Nghiên cứu chứng minh khả năng ứng dụng vụn bêtông thay thế 20-30% đá tự nhiên trong bêtông, đáp ứng yêu cầu kỹ thuật cho nhiều công trình dân dụng. Việc thay thế 30% đá bằng vụn bêtông có thể giảm cường độ 10-15%, nhưng vẫn đạt mác bêtông M25-M30 phù hợp cho nhà ở thấp tầng. Kết quả thí nghiệm cũng chỉ ra rằng, vụn bêtông cải thiện khả năng chống thấm nhưng làm tăng độ co ngót. Để ứng dụng rộng rãi, cần xây dựng tiêu chuẩn kỹ thuật riêng cho bêtông sử dụng vụn bêtông, cũng như hướng dẫn thiết kế và thi công. Các doanh nghiệp nên đầu tư vào hệ thống tái chế vụn bêtông tại chỗ để giảm chi phí vận chuyển. Chính phủ cần khuyến khích chính sách ưu đãi thuế cho dự án sử dụng vật liệu tái chế, thúc đẩy nền kinh tế tuần hoàn trong ngành xây dựng.

4.1. Tóm tắt kết quả nghiên cứu chính

Nghiên cứu xác định tỷ lệ thay thế vụn bêtông tối ưu là 20-30% đá tự nhiên, đảm bảo cường độ chịu nén đạt 70-80% so với bêtông truyền thống. Độ bền lâu được cải thiện nhờ cấu trúc xốp của vụn bêtông, nhưng độ co ngót tăng lên cần kiểm soát chặt chẽ. Khả năng chống thấm tốt hơn nhờ khả năng hấp thụ nước của vụn bêtông. Về kinh tế, tiết kiệm chi phí nguyên vật liệu 10-20% và giảm chi phí xử lý phế thải. Môi trường hưởng lợi nhờ giảm khai thác tài nguyên và phát thải CO₂. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học cho việc áp dụng vụn bêtông trong thực tế.

4.2. Hướng phát triển trong tương lai

Trong tương lai, cần nghiên cứu sâu hơn về tác động lâu dài của vụn bêtông đến độ bền lâu của công trình, đặc biệt trong môi trường khắc nghiệt. Phát triển phụ gia cải thiện độ bám dính giữa xi măng và vụn bêtông sẽ giúp nâng cao cường độ. Ngoài ra, nghiên cứu ứng dụng vụn bêtông trong bêtông cốt thép và bêtông ứng suất trước sẽ mở rộng phạm vi sử dụng. Chính sách khuyến khích từ phía nhà nước, như miễn giảm thuế VAT cho vật liệu tái chế, sẽ thúc đẩy ứng dụng rộng rãi. Đào tạo kỹ thuật viên về tái chế và sử dụng vụn bêtông cũng là giải pháp quan trọng để nâng cao nhận thức cộng đồng.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

24/05/2026
Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ứng dụng vụn bêtông thay thế một phần đá tự thiên trong hỗn hợp bêtông

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Nguồn gốc bêtông: Bêtông là một loại đá nhân tạo, được hình thành b ởi việc trộn các thành phần: Cốt liệu thô, c ốt liệu mịn, chất kết dính…theo m ột tỷ lệ nhất định (được gọi là c ấp phối bêtông). Trong bêtông, chất kết dính (ximăng + nước, phụ gia…) làm vai trò liên kết các ốct liệu thô ( đá, ỏsi…) và c ốt liệu mịn (cát,đá xay…) và khi đóng r ắn cho tất cả thành m ột khối cứng như đá. Kết cấu bêtông được sử dụng rộng rãi nh ờ những ưu điểm: giá thành thấp (do được cấu thành t ừ các vật liệu tự nhiên ẵsn có nh ư cát,đá, ỏsi…), kh ả năng chịu lực lớn, độ bền cao, dễ tạo hình, chống cháy ốtt (dưới 400oC thì cường độ bêtong không suy giảm đáng kể), hấp thụ năng lượng (do có kh ối lượng lớn)… vì v ậy bêtông đã được sử dụng phổ biến từ thời La Mã c ổ đại, và đến ngày nay v ẫn là lo ại vật liệu được sử dụng phổ biến khi kết hợp với các loại vật liệu khác,đặc biệt là thép.

Hình 1: Đấu trường Collosseum [www. Tình hình nghiên ứcu trong và ngoài n ước Tại Việt Nam, các nghiênứcu về ứng dụng vụn bêtông tái chế chưa được công b ố rộng rãi trên cácạtp chí chuyên ngành nên còn hạn chế trong việc tìm hiểu tình hình nghiên cứu trong nước. 1 Tại Châu Âu, M ỹ và các nước tiên tiến trên thế giới, vụn bêtông đã được nghiên ứcu sử dụng trong việc chế tạo các loại vật liệu xây d ựng, trong trang trí nội thất nhằm tận dụng loại phế thải sẵn có t ừ việc phá hủy công trình và gi ảm tácđộng tới môi tr ường. Bêtông sau khi phá ủhy sẽ được chọn lọc qua máy nghiền tại chỗ thành các kích cỡ hạt khác nhau, sau khiđược phân lo ại sẽ được sử dụng vào các mục đích khác nhau.

Việc nghiền và tái chế bêtông ngay tại công trình s ẽ làm gi ảm chi phí vận chuyển và tình tr ạng ô nhi ễm môi tr ường. Hình 2: Máy nghiền bêtông [www.Sri Ravindrarajah và C.Tam [1] đã nghiên cứu cácđặc trưng của bêtông khi sử dụng vụn bêtông thay thế cốt liệu tự nhiên. Kết quả nghiên ứcu cho thấy thay thế cốt liệu tự nhiên bằng vụn bêtông làm ảnh hưởng trực tiếp đến cường độ và mo đun đàn h ồi của bêtông. Ngoài ra kết quả nghiên ứcu còn cho thấy khả năng chế tạo bêtông có cường độ cao hơn cường độ của vụn bêtông tái chế.

Liên minh các phòng thí nghiệm và chuyên gia quốc tế về các hệ thống và c ấu trúc vật liệu xây d ựng ( RILEM) [2] đã cung c ấp khuyến cáo về việc sử dụng cốt liệu bêtông tái chế vào n ăm 1994 [RILEM Recommendation 1994], đặc điểm kỹ thuật và ch ỉ ra phạm vi áp dụng cho bêtông tái chế. Bêtông tái chế được phân lo ại như sau: 2 - Loại 1: Cốt liệu tái chế có ngu ồn gốc chủ yếu từ đống đổ nát (bao gồm gạch và bêtông, vữa lẫn). - Loại 2: Cốt liệu tái chế có ngu ồn gốc từ bêtông. - Loại 3: Cốt liệu là s ự pha trộn của cốt liệu tái chế và c ốt liệu tự nhiên, thành ph ần có ít nh ất 80% cốt liệu tự nhiên và tối đa 10% cốt liệu loại 1.

Mirjana Malesev, Vlastimir Radonjanin và Snezana Ma rinkovic [3] đã nghiên ứcu sản xuất kết cấu bêtông từ vụn bêtông tái chế. Nghiên ứcu thay thế đá tự nhiên bằng vụn bêtông tái chế với tỷ lệ 50% và 100% trong ch ế tạo cấu kiện dầm bêtông cốt thép cho thấy khả năng chịu lực của dầm không có ảnh hưởng đáng kể khi sử dụng vụn bêtông thay thế cốt liệu đá ựt nhiên. Brett Micheal Schoppe [4] đã th ực nghiệm về ảnh hưởng của tỷ lệ vụn bêtông đến cường độ bêtông. Các ếkt quả thực nghiệm cho thấy việc tăng tỷ lệ vụn trong hỗn hợp bêtông làm giảm cường độ bêtông từ 5% đến 30%.

Ngoài ra, tỷ lệ vụn bêtông cũng ảnh hưởng đến độ co ngót c ủa bêtông do tính chất hút nước của vụn bêtông cao hơn độ hút nước của đá ựt nhiên. Mirjana Malesev, Vlastimir Radonjanin và Gordana Br oceta [6] đã nghiên cứu cácđặc trưng của vụn bêtông tái chế. Kết quả nghiên ứcu cho thấy vụn bêtông tái chế có độ hút nước cao hơn, khối lượng thể tích thấp hơn, hàm l ượng hữu cơ cao, làm gi ảm độ kháng ma sátủca bêtông so với khi sử dụng vật liệu tự nhiên. Sự hiện diện của vụn bêtông tái chế trong hỗn hợp bêtông làm ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng chịu kéo, chịu nén và mođun đàn h ồi của bêtông.

Cácứng dụng trong và ngoài n ước 1.1 Chế tạo gạch block từ bê tông gạch vỡ tại Sơn La-Việt Nam: Tại Sơn La [7] Công ty C ổ phần Xây d ựng và Th ương mại An Phátđã nghiên ứcu và cho ra đời sản phẩm gạch Block được hình thành t ừ đá vụn, cát, xi măng, từ phế thải xây d ựng như gạch vỡ, vữa, bê tông. có cường độ chịu lực cao có th ể xây nhà cao t ầng. Đến năm 2015, dự ánđã s ản xuất thử nghiệm được trên 10.000 viênạgch, tiếp thu, làm ch ủ và áp dụng thành công quy trình công ngh ệ sản xuất gạch 3 không nung b ằng công ngh ệ đất hóa đá ừt nguyên liệu sẵn có c ủa địa phương. Qua nghiên ứcu về tính tiên tiến của công ngh ệ cho thấy công ngh ệ sản xuất gạch không nung t ừ đất đồi và nguyên liệu có s ẵn không gây ô nhi ễm môi tr ường (do không th ải khói b ụi và ch ất thải ra môi tr ường, làm s ạch thêm môi trường do tận thu các phế thải sản xuất công nghi ệp như: bã th ải khai thác khoángả n,s sỉ than, gạch vỡ…); ki ểu dáng gọn; không s ử dụng nhiệt nên tiết kiệm năng lượng.2 Chế tạo gạch block từ bê tông tái chếtại Nam Phi: Vụn bêtông cỡ hạt mịn và nh ỏ được tái ửs dụng làm c ốt liệu cho việc sản xuất gạch block.

Hình 3 : Gạch không nung s ử dụng vụn bêtông [https://ecofootprintsa.3 Đường giao thông n ội bộ sử dụng vụn bêtông tại Newzealand: Bêtông phế thải được nghiền sử dụng làm n ền hạ (subbase) trong đường giao thông, thông th ường ở Việt Nam đang sử dụng đá 0x4 loại 1 và lo ại 2 để làm n ền hạ. 4 Hình 4 :Cấu tạo đường giao thông s ử dụng phế thải bêtông [www.nz] Hình 5 :Nền hạ đường giao thông s ử dụng phế thải bêtông [www.4 Đường cao tốc sử dụng vụn bêtông tại Mỹ: Cơ quan Vận tải Liên bang Hoa Kỳ (STA) [8] trong nhiều năm qua đã đẩy mạnh việc sử dụng thường xuyên bê tông tái ếchnhư một dạng cốt liệu. Các thông s ố kỹ thuật, thực tiễn xây d ựng và các thách thức trong việc thực hiện cũng được cơ quan này ghi l ại và nghiên cứu. Thông tin này sau đó được phổ biến cho tất cả các ơc quan vận tải các bang thông qua các ướhng dẫn kỹ thuật, đào t ạo nếu cần.

Cơ quan Vận tải Liên bang Hoa Kỳ đã l ựa chọn các tiểu bang Minnesota, Utah, Virginia, Texas và Michigan để nghiên ứcu kỹ lưỡng quy trình tổng hợp 5 cốt liệu bê tông tái chế tại các khu vực này. Sau kh ảo sát, STAđã đưa ra 5 số liệu để mô t ả mức độ sử dụng cốt liệu bê tông tái chế ở từng bang. Kết luận được STA rút ra từ những con số này cho th ấy: Bê tông thường được tái chế để sử dụng làm đường cao tốc ở Hoa Kỳ; Ứng dụng chính của RCA ở Hoa Kỳ được coi như một vật liệu cơ bản; Việc sử dụng RCA trong nhựa đường nóng (HMA) vẫn chưa được chấp nhận rộng rãi ở Hoa Kỳ.5 Dự án ảci tạo sân bay Changi - Singapore: Tại Singapore [5] cốt liệu bê tông tái chế đã được sử dụng để xây d ựng và cải tạo nhiều công trình, trong đó có vi ệc xây d ựng cảng xuất nhập khẩu tại Sân bay quốc tế Changi. Tập đoàn sân bay Changi đã kh ởi xướng dự án ửs dụng bê tông tái chế từ việc phá dỡ các công trình quanh sân bay để tái ạto mặt sàn c ứng cho máy bay.

Dự ánđã th ể hiện tính khả thi của việc sử dụng RCA như một giải pháp thay thế cho cốt liệu tự nhiên trong bê tôngđể xây d ựng. Để khắc phục mặt sàn c ứng đã b ị hỏng hóc, máy cắt thủy lực và bê tông phế liệu đã được vận chuyển đến cơ sở tái chế gần đó để chế biến. Phế liệu này ch ủ yếu là bê tông nghiền, kim loại màu. Vi ệc chế biến được thực hiện bằng cách ửs dụng máy nghiền di động kết hợp với hệ thống băng tải.

Các quy trình chính bao gồm nghiền, sàng l ọc RCA theo kích cỡ yêu ầcu cho ứng dụng bê tông. Hình 6 Tái ửs dụng vụn bêtông, Sân bay Changi – Singapore 6 1. Những khó kh ăn trong ứng dụng vụn bêtông: Việc sử dụng phế thải bêtông trong chế tạo bêtông tại công trình đòi h ỏi mặt bằng thi công r ộng để bố trí khu vực nghiền và phân lo ại phế thải bêtông. Bêtông sử dụng phế thải bêtông chưa được quy định trong tiêu chuẩn Việt Nam nên việc áp dụng vào công trình nhà n ước sẽ gặp nhiều khó kh ăn.

Các công trình nghiên ứcu ứng dụng thực tế sử dụng phế thải bêtông trong chế tạo bêtông tại Việt Nam chưa nhiều và ch ưa được công b ố rộng rãi. Cần thí nghiệm các chỉ tiêu phế thải bêtông trước khi ứng dụng vào t ừng công trình c ụ thể. Do cường độ phế thải bêtông thường nhỏ hơn đá ựt nhiên nên khó ửs dụng trong chế tạo bêtông mác cao. Chế tạo bêtông từ phế thải bêtông đòi h ỏi chi phí cao (tham khảo bảng tổng hợp chi phí thi công đường sân golf s ử dụng vụn bêtông [9]).

Bảng 1 Chi phí thi công đường sân golf s ử dụng vụn bêtông Khối lượng Giá tiền Giá trị tổng (m³) (USD/m³) USD AP65 (concrete) 2,400 16 38,400 AP40 (concrete) 600 24 14,400 Bê tông tái chế 520 130 67,600 120,400 Bảng 2 Chi phí thi công đường sân golf s ử dụng cốt liệu tự nhiên Khối lượng Giá tiền Giá tr (m³) (USD/m³) U AP65 (concrete) 2,400 8 19,200 AP40 (concrete) 600 12 7,200 Hỗn hợp nhựa nóng 520 150 78,0 104,400 1. Những thuận lợi trong sử dụng phế thải bêtông: Bêtông được sử dụng rộng rãi t ại Việt Nam nên phế thải bêtông dễ tìm. 7 Sử dụng phế thải bêtông làm vật liệu xây d ựng góp ph ần bảo vệ môi trường.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ