CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về bệnh ung thư Cơ thể chúng ta được tạo nên từ hàng tỷ tế bào trải qua các giai đoạn trưởng thành, phân chia và sau đó chết đi. Ung thư xảy ra khi tế bào không đi theo quy luật trên mà tiếp tục phân chia tạo ra tế bào mới, phát triển vượt tầm kiểm soát của cơ thể và lấn át tế bào thường, khiến cơ thể không thể vận hành bình thường. Nguyên nhân gây ra ung thư có thể là do gene di truyền, tác động của môi trường (tia cực tím, bức xạ ion hóa, ô nhiễm môi trường), lối sống (chế độ ăn uống, sinh hoạt), nhiễm trùng hoặc do tuổi tác,.
Hầu hết các bệnh ung thư rơi vào một trong ba nhóm chính sau: ung thư biểu mô, ung thư mô liên kết và ung thư bạch cầu (ung thư lympho). Ung thư biểu mô bao gồm khoảng 90% các bệnh ung thư ở người, có đặc điểm là các khối u ác tính gặp ở các tế bào biểu mô. Ung thư mô liên kết thường hiếm gặp hơn, là các khối u rắn xuất hiện tại các mô liên kết như cơ, xương, khớp sụn và mô sợi. Ung thư bạch cầu (chiếm khoảng 8% các khối u ác tính ở người) phát sinh từ các tế bào tạo máu và tế bào của hệ miễn dịch [8].
Hiện nay, ung thư là bệnh có tỉ lệ tử vong đứng thứ 2 trên thế giới (khoảng 10 triệu người chết vì ung thư mỗi năm) với 70% trong số đó ở các nước có thu nhập thấp và thu nhập trung bình. Theo số liệu mới nhất do WHO cung cấp, ước tính có khoảng 18.1 triệu ca mắc ung thư trong năm 2020, trong đó 9.3 triệu ca ở nam giới và 8.8 triệu ca ở nữ giới. Các bệnh ung thư chiếm tỉ lệ cao nhất lần lượt là ung thư vú (12.5%), ung thư phổi (12.2%), ung thư đại tràng (10.7%), ung thư tuyến tiền liệt (7.8%), ung thư dạ dày (6.0%) và ung thư gan (5. Tại Việt Nam, bệnh ung thư đang có xu hướng gia tăng, với khoảng 182.563 số ca mắc mới (xếp thứ 91/185 quốc gia) và 122.690 ca tử vong do ung thư (xếp thứ 50/185 quốc gia) được ghi nhận trong năm 2020 theo GLOBOCAN.
Trong số này, ung thư gan (tỉ lệ tử vong 22.1%; tỉ lệ mắc bệnh: 15.4%), ung thư phổi (18.4%), ung thư dạ dày (13.2%) và ung thư đại tràng (7.9%) là các bệnh ung thư thường gặp nhất [9]. Đặc biệt, theo ghi nhận của bệnh viện K (Vietnam National Cancer Hospital), bệnh ung thư đang ngày càng có xu hướng trẻ hóa, ở nhóm bệnh nhân này bệnh có xu hướng tiến triển nhanh và không được phát hiện sớm, gây ảnh hưởng lớn đến thành công của quá trình điều trị. n 4 Việc điều trị ung thư phụ thuộc vào loại ung thư, vị trí ung thư, kích thước khối u, sự di căn của khối u và tình hình sức khỏe chung của người bệnh. Các phương pháp chung để điều trị ung thư bao gồm: phẫu thuật, hóa trị, xạ trị, liệu pháp hormone, liệu pháp miễn dịch và liệu pháp gene.
Cho đến nay, hơn 400 loại thuốc đã được sử dụng trong lâm sàng để điều trị ung thư, chúng được phân thành các loại: các tác nhân alkyl hóa (cisplatin, cyclophosphamide dacarbazine, ifosfamide,…), các nitrosourea (carmustine, lomustine, streptozocin), chất chống chuyển hóa (azacitidine, 5-fluorouacil, clofarabine, cytarabine, floxuridine,…), kháng sinh chống khối u (daunorubicin, doxorubicin, epirubicin,…), chất ức chế topoisomerase (irinotecan, etoposide, teniposide, mitoxantrone,…), chất chống phân bào (docetaxel, paclitaxel, vinblastine, …),. Tuy nhiên, tình trạng kháng đa thuốc trong điều trị ung thư ngày càng trở nên nghiêm trọng, đòi hỏi con người phải liên tục tìm kiếm những loại thuốc điều trị ung thư mới [1-3]. Tổng quan về lớp chất podophyllotoxin 1. Tổng quan về lớp chất podophyllotoxin và một số dẫn xuất của nó Podophyllotoxin là một aryltetralin lignan phân lập từ họ Podophyllum, trong số đó hai nguồn phổ biến nhất là thân rễ của loài Podophyllum peltatum (cây Mayapple Mỹ) và Sinopodophyllum hexandrum Royle (họ Barberry) [10].
Dịch chiết chứa podophyllotoxin đã được sử dụng như thuốc nhuận tràng, ngoài ra còn dùng để điều trị các bệnh như lậu, giang mai, sùi mào gà, lao, vảy nến, phù nề và rối loạn kinh nguyệt,. Hợp chất này được phân lập lần đầu tiên vào năm 1880 bởi Podwyssotzki [11] và đã được mô tả trước đó vào năm 1753 bởi Linnaeus [12]. Hoạt tính sinh học của podophyllotoxin vô cùng đa dạng, từ gây độc ty thể, gây độc thần kinh, tiêu diệt côn trùng, kháng khuẩn, chống viêm, ức chế miễn dịch đến chống oxy hóa, chống co rút cơ, giảm mỡ máu, giảm đau [13].1: Cấu trúc của podophyllotoxin Đặc biệt, podophyllotoxin thể hiện hoạt tính kháng ung thư rõ rệt qua cơ chế ức chế sự trùng hợp của tubulin (một protein cần thiết trong quá trình phân bào) dẫn tới sự bắt giữ chu kỳ tế bào và ngăn chặn quá trình hình thành vi ống của thoi phân bào [4, 5, 7]. Tuy nhiên, việc áp dụng podophyllotoxin trong lâm sàng gặp thất bại hoàn toàn do các tác dụng phụ của nó như gây độc cho hệ tiêu hóa, gây độc thần kinh, rụng tóc và gây ức chế tế bào tủy xương,.
Bởi vậy, các dẫn xuất và các chất tương tự podophyllotoxin ít độc tính hơn đang được tích cực tìm kiếm. Podophyllotoxin trở thành cấu trúc cơ sở để tìm kiếm các loại thuốc điều trị ung thư mới [7]. Cấu trúc của podophyllotoxin được làm rõ vào những năm 1930. Kể từ đó, nhiều nghiên cứu đã được thực hiện nhằm biến đổi cấu trúc của chất này, cho kết quả là các thuốc chống ung thư như etoposide (VP-16), teniposide (VM-26) và etopophos đã được FDA cấp phép sử dụng [5].
Khác với podophyllotoxin, các dẫn xuất này hoạt động dựa trên cơ chế tương tác với DNA và quá trình phân chia của chúng để thực hiện chức năng ức chế quá trình phân bào, ví dụ như etoposide ức chế enzym DNA topoisomerase II và bắt giữ chu kỳ tế bào ở pha S [4]. Tuy nhiên, việc sử dụng các thuốc này vẫn bị hạn chế bởi những tác dụng phụ nghiêm trọng bao gồm gây độc với tế bào tủy xương, rụng tóc, gây độc cho đường tiêu hóa, kháng thuốc và bệnh ung thư thứ phát [14].2: Các dẫn xuất của podophyllotoxin bao gồm teniposide, etoposide và etopophos Không chỉ vậy, việc nghiên cứu quan hệ cấu trúc-hoạt tính của podophyllotoxin bị giới hạn trong các sản phẩm tự nhiên phân lập được thay vì qua các phản ứng hóa học. Cấu trúc của podophyllotoxin với bốn carbon bất đối trong vòng C và ba nhóm methoxy trong vòng E gây không ít khó khăn trong quá trình tổng hợp các dẫn xuất mới [6, 15]. Vấn đề đặt ra là phải tìm được các hợp chất tương tự podophyllotoxin có thể được tổng hợp qua một quy trình tổng hợp ngắn, dễ dàng từ các chất đầu đơn giản và đây là lúc các aza- podophyllotoxin được chú ý tới.
Trong nhiều năm, các phương pháp tổng hợp aza-podophyllotoxin đã được nghiên cứu phát triển, đặc biệt là phương pháp sử dụng phản ứng đa thành phần có sự trợ giúp của sóng siêu âm hoặc vi sóng [6, 16-22]. Tổng quan về lớp chất 4-aza-podophyllotoxin 1. Giới thiệu chung về lớp chất 4-aza-podophyllotoxin 4-Aza-podophyllotoxin là các dẫn xuất của podophyllotoxin với nguyên tố cacbon tại vị trí C-4 được thay bằng nguyên tố nitơ. Cấu trúc này cho phép các dẫn xuất 4-aza-podophyllotoxin có thể dễ dàng được tổng hợp hơn so với podophyllotoxin và các dẫn xuất như teniposide, etoposide hay etopophos.
Quan trọng hơn, 4-aza-podophyllotoxin cũng thể hiện hoạt tính kháng ung thư mạnh với nhiều đích tác dụng thông qua cơ chế kích hoạt apotosis, ức chế DNA n 7 topoisomerase, bắt giữ chu kỳ tế bào ở pha G2/M, ức chế sự hình thành vi ống [6, 22, 23]. Tình hình nghiên cứu tổng hợp các dẫn xuất 4-aza- podophyllotoxin a) Các nghiên cứu tổng hợp truyền thống Theo tài liệu, dẫn xuất 4-aza-podophyllotoxin đầu tiên được bán tổng hợp từ podophyllotoxin được công bố vào năm 1999 bởi nhóm nghiên cứu của Koichi Takeya qua quy trình gồm 12 bước qua các phản ứng phân tách vòng C, chuyển vị Curtius và alkyl hóa nguyên tử nitơ nội phân tử (Sơ đồ 1. Thử nghiệm in vitro trên dòng tế bào ung thư bạch cầu P388 cho thấy khả năng gây độc tế bào của dẫn xuất 4-aza-podophyllotoxin là tương đương với podophyllotoxin với giá trị IC50 = 0. n 8 Điều kiện phản ứng: (a) LiAlH4, THF, nhiệt độ phòng; (b) ClCO2Et, pyridine, -20 °C; (c) 1-methylnaphthalene, 170 °C; (d) 1.
Me2S; (e) BH3, THF, nhiệt độ phòng; (f) MnO2, CH3CN, nhiệt độ phòng; (g) MsCl, Et3N, CHCI3, nhiệt độ phòng; (h) NaCIO2, 2-methyl-2-butene, t- BuOH, dung dịch đệm pH = 4; (i) DPPA, Et3N, dioxane, nhiệt độ phòng-120 °C (j) PPh3, I2, imidazole, PhMe, 90 °C; (k) BnBr, K2CO3, MeOH-H2O, 65 °C; (l) 4-methylmorpholine N-oxide, n-Pr4NRuO4, MS 4A, CH2CI2, nhiệt độ phòng; (m) H2, Pd/C, AcOH-EtOH. Năm 2000, nhóm nghiên cứu tiếp tục công bố phản ứng tổng hợp các dẫn xuất 4-aza-podophyllotoxin từ phản ứng khử hóa qua các chất trung gian quinoline được công bố trước đó (Sơ đồ 1.2: Tổng hợp các dẫn xuất 4-aza-podophyllotoxin qua các chất trung gian quinoline Một số dẫn xuất 4-aza-podophyllotoxin tổng hợp được theo phương pháp trên thể hiện hoạt tính kháng dòng tế bào ung thư bạch cầu P-388 với giá trị IC50 tương đương hoặc thấp hơn podophyllotoxin (0. b) Các nghiên cứu tổng hợp sử dụng phản ứng đa thành phần Theo A. Ugi, phản ứng đa thành phần được định nghĩa là các quá trình gồm hai hay nhiều phản ứng tạo liên kết trong đó phản ứng biến đổi sau xảy ra được là nhờ các nhóm chức hình thành từ phản ứng trước đó [26, 27].
Các phản ứng đa thành phần cung cấp một phương pháp hiệu quả cho tổng hợp hữu cơ hiện đại, với những ưu điểm của một phản ứng tổng hợp lý tưởng như cho hiệu suất cao, quy trình thực hiện đơn giản, nhanh chóng và tiết kiệm năng lượng, thân thiện với môi trường cũng như cho phép tổng hợp một số lượng khổng lồ các hợp chất hữu cơ đa dạng, phức tạp,. Do vậy, các phản ứng đa thành phần nhận được sự quan tâm rất lớn trong lĩnh vực y sinh và công nghiệp [28]. Phản ứng đa thành phần được áp dụng trong nghiên cứu tổng hợp các dẫn xuất 4-aza-podophyllotoxin kể từ năm 2002 trong nghiên cứu của Christophe Tratrat và cộng sự [29]. n 10 Nhóm nghiên cứu của Christophe Tratrat công bố phản ứng tổng hợp các dẫn xuất 4-aza-2,3-didehydropodophyllotoxin đầu tiên sử dụng phản ứng đa thành phần với các dẫn xuất của aryl amin, aldehyde và tetronic acid (Sơ đồ 1.
Quy trình phản ứng là sự phát triển của phản ứng được nhóm nghiên cứu của Koichi Takeya công bố năm 2000 (Sơ đồ 1. Phản ứng có nhiều ưu điểm như điều kiện phản ứng êm dịu, phản ứng “một nồi” với hiệu suất cao và cơ chất phản ứng đa dạng.