Tổng quan nghiên cứu

Lượng rác thải sinh hoạt tại các đô thị Việt Nam đang gia tăng trung bình khoảng 10% mỗi năm, tạo ra áp lực khổng lồ lên hạ tầng xử lý chất thải rắn. Điển hình tại Khu liên hợp xử lý chất thải Nam Sơn (Sóc Sơn, Hà Nội) tiếp nhận hơn 4.000 tấn rác mỗi ngày, lượng nước rỉ rác phát sinh ước tính từ 3.000 đến 4.000 m3/ngày đêm chứa nồng độ chất ô nhiễm cực kỳ nghiêm trọng. Kết quả phân tích chất lượng nước rỉ rác đầu vào tại bãi rác Nam Sơn ghi nhận hàm lượng Tổng Nitơ dao động từ 423 mg/l đến 2.887 mg/l, tổng chất rắn hòa tan (TDS) lên tới 6.150 mg/l, nồng độ photpho tổng từ 6,51 mg/l đến 24,80 mg/l, cùng sự xuất hiện của các kim loại nặng độc hại như chì (Pb: 0,050 - 0,086 mg/l), cadimi (Cd: 0,010 - 0,025 mg/l) và asen (As: 0,001 - 0,003 mg/l).

Thách thức lớn nhất trong xử lý nước rỉ rác Nam Sơn là tỷ lệ phân hủy sinh học BOD5/COD chỉ đạt mức 0,485 - 0,540 và suy giảm mạnh theo tuổi bãi chôn lấp. Nguồn nước này chứa hàm lượng cao các hợp chất hữu cơ mạch vòng khó phân hủy sinh học như axit humic và axit fulvic, khiến các công nghệ sinh học truyền thống dễ rơi vào trạng thái sốc tải và giảm hiệu suất khử ô nhiễm.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Hóa môi trường tập trung nghiên cứu ứng dụng phương pháp keo tụ điện hóa nhằm tiền xử lý nước rỉ rác bãi rác Nam Sơn. Mục tiêu cốt lõi là tối ưu hóa các thông số kỹ thuật then chốt để cắt giảm trên 50% nhu cầu oxy hóa học (COD), loại bỏ trên 40% hợp chất nitơ vô cơ và triệt tiêu độ màu, tạo điều kiện thuận lợi cho các công đoạn lọc sinh học và lọc màng phía sau. Nghiên cứu được thực hiện trên mẫu thực tế thu thập tại bãi rác Nam Sơn giai đoạn 2016-2017 thuộc khuôn khổ đề tài nghiên cứu của Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam. Kết quả đạt được mang lại giải pháp công nghệ khả thi với chi phí vận hành dưới 2,5 USD/kg COD loại bỏ, góp phần ngăn chặn nguy cơ thẩm thấu chất độc vào tầng nước ngầm khu vực Sóc Sơn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết điện hóa môi trường kết hợp với động học keo tụ tạo bông và cơ chế phân tách pha. Quá trình keo tụ điện hóa hoạt động dựa trên sự hòa tan anot hy sinh kim loại (Fe hoặc Al) dưới tác dụng của dòng điện một chiều. Khi áp đặt dòng điện, phản ứng oxy hóa tại cực dương giải phóng các cation kim loại Fe2+, Fe3+ hoặc Al3+ vào dung dịch. Theo định luật điện phân Faraday, khối lượng kim loại hòa tan tỷ lệ thuận với cường độ dòng điện và thời gian phản ứng, cung cấp liên tục tác nhân keo tụ mà không cần châm hóa chất dạng lỏng.

Các cation kim loại giải phóng từ anot nhanh chóng trải qua chuỗi phản ứng thủy phân để hình thành các phức hydroxit đa nhân mang điện tích dương cao. Dựa trên thuyết keo tụ và nén lớp điện kép DLVO, các hạt keo hydroxit kim loại này trung hòa điện tích bề mặt của các chất hữu cơ mang điện tích âm (như axit humic, axit fulvic) và các hạt lơ lửng, kéo chúng lại gần nhau để tạo thành các bông cặn kích thước lớn có khả năng lắng nhanh. Đồng tại catot diễn ra phản ứng khử nước tạo ra khí hydro (H2) với đường kính bọt khí siêu mịn từ 20 đến 50 µm, thúc đẩy quá trình tuyển nổi điện hóa đưa các hợp chất hữu cơ kỵ nước lên bề mặt.

Các khái niệm chuyên ngành then chốt được áp dụng xuyên suốt bao gồm: Nhu cầu oxy hóa học (COD), Quá trình oxy hóa nâng cao (AOPs), Tỷ lệ phân hủy sinh học (BOD5/COD) và Mật độ dòng điện (mA/cm2). Mục tiêu chuyển dịch tỷ lệ BOD5/COD từ mức thấp dưới 0,2 lên trên 0,4 sau tiền xử lý đóng vai trò là chỉ số đánh giá khả năng cải thiện hoạt tính sinh học của nguồn nước thải.

Phương pháp nghiên cứu

Thực nghiệm được triển khai với cỡ mẫu chuẩn 1.000 ml nước rỉ rác cho mỗi mẻ phản ứng trong bình điện hóa thể tích 1.500 ml, mỗi điều kiện thí nghiệm được lặp lại độc lập 3 lần để triệt tiêu sai số ngẫu nhiên và đảm bảo độ tin cậy thống kê trên 95%. Nguồn dữ liệu thực nghiệm sử dụng mẫu nước rỉ rác thu thập trực tiếp tại hồ lưu chứa nước rỉ rác bãi rác Nam Sơn theo phương pháp lấy mẫu tổ hợp quy định tại tiêu chuẩn TCVN 6663-1:2011 (ISO 5667-1).

Hệ thống phân tích chất lượng nước tuân thủ nghiêm ngặt các phương pháp tiêu chuẩn quốc gia và quốc tế. Chỉ số COD được xác định bằng phương pháp chuẩn độ Bicromat hồi lưu nhiệt kín ở 150°C trong 2 giờ theo tiêu chuẩn SMEWW 5220C, đảm bảo độ chính xác cao đối với các mẫu nước thải có nồng độ chất hữu cơ đậm đặc vượt trên 1.000 mg/l. Hàm lượng Amoni (NH4+) được định lượng bằng phương pháp so màu quang phổ với thuốc thử Nessler theo TCVN 6179-1:1996 ở bước sóng 420 nm. Hàm lượng Nitrat (NO3-) được xác định bằng phương pháp trắc quang tử ngoại theo SMEWW 4500-NO3- B. Độ pH và độ dẫn điện được kiểm soát liên tục bằng máy đo đa chỉ tiêu điện tử có độ phân giải 0,01 pH.

Timeline nghiên cứu thực nghiệm được thực hiện liên tục từ tháng 3/2016 đến tháng 1/2017. Các dải thông số công nghệ được khảo sát có hệ thống bao gồm: Cường độ dòng điện từ 1,0 A đến 5,0 A (tương ứng mật độ dòng 10 - 50 mA/cm2), khoảng pH ban đầu từ 4,0 đến 9,0, thời gian phản ứng từ 10 đến 60 phút, và so sánh hiệu năng giữa hai loại vật liệu anot sắt (Fe) và nhôm (Al).

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình khảo sát thực nghiệm đã xác lập 4 phát hiện công nghệ mang tính định lượng rõ ràng:

Thứ nhất, cường độ dòng điện có ảnh hưởng mang tính quyết định đến tốc độ phá vỡ liên kết ô nhiễm. Khi nâng cường độ dòng điện từ 1,0 A lên 3,0 A (mật độ dòng điện đạt 30 mA/cm2), hiệu suất loại bỏ COD tăng mạnh từ 28,4% lên 52,6% sau 45 phút phản ứng. Đồng thời, khả năng xử lý amoni đạt hiệu suất 42,5% và nitrat đạt 38,7%. Khi tiếp tục tăng dòng điện lên mức cực đại 5,0 A, hiệu suất khử COD chỉ tăng thêm 3,1% (đạt 55,7%), nhưng mức tiêu thụ điện năng lại tăng vọt 120%, cho thấy điểm bão hòa kinh tế nằm ở mức 3,0 A.

Thứ hai, pH ban đầu quyết định trạng thái tồn tại của các mầm keo hydroxit kim loại. Dải pH tối ưu cho hệ keo tụ điện hóa nằm trong khoảng trung tính từ 6,8 đến 7,2. Tại giá trị pH = 7,0, hiệu suất khử COD đạt đỉnh 52,6%. Ở môi trường axit (pH = 4,0), hiệu suất xử lý COD sụt giảm còn 31,5% do các ion sắt tồn tại chủ yếu ở dạng hòa tan tự do Fe2+/Fe3+, không tạo được phức kết tủa. Ở môi trường kiềm mạnh (pH = 9,0), hiệu suất giảm xuống mức 34,2% do hiện tượng hòa tan ngược tạo thành phức tan Fe(OH)4-.

Thứ ba, bản chất vật liệu điện cực tạo ra sự phân hóa rõ rệt về hiệu suất và tính chất bùn lắng. Anot sắt (Fe) thể hiện ưu thế vượt trội với hiệu suất khử COD đạt 52,6% và khử amoni đạt 42,5%, cao hơn đáng kể so với anot nhôm (Al) chỉ đạt 43,8% COD và 35,2% amoni ở cùng điều kiện vận hành. Bông cặn hydroxit sắt Fe(OH)3 tạo thành có tỷ trọng lớn, giúp thể tích bùn sau lắng 30 phút giảm 25% so với bùn nhôm, đồng thời giá thành vật liệu sắt rẻ hơn khoảng 30%.

Thứ tư, định mức tiêu hao năng lượng được xác lập ở mức tối ưu. Tại chế độ vận hành dòng điện 3,0 A, pH = 7,0 và thời gian 45 phút, lượng điện năng tiêu thụ đo được là 5,4 kWh cho mỗi kg COD được loại bỏ, tương đương chi phí tiền điện trung bình từ 8.500 đến 13.500 VNĐ/kg COD.

Thảo luận kết quả

Cơ chế xử lý COD trong nước rỉ rác Nam Sơn diễn ra thông qua sự kết hợp của 3 quá trình đồng thời: oxy hóa trực tiếp tại bề mặt anot, hấp phụ - keo tụ bởi các hạt mầm Fe(OH)3 đa nhân, và tuyển nổi bọt khí H2 sinh ra từ catot. Dưới tác dụng của dòng điện, các phân tử hữu cơ mạch dài khó phân hủy bị bẻ gãy thành các mạch ngắn hơn, làm tăng khả năng tiếp cận của các mầm keo. Bọt khí hydro với diện tích bề mặt tiếp xúc lớn cuốn trôi các hợp chất hữu cơ kỵ nước lên lớp váng bề mặt, giải phóng pha lỏng bên dưới.

Khi so sánh với các nghiên cứu quốc tế, hiệu suất khử 52,6% COD và trên 90% photpho trong luận văn tương đồng với công bố của các nhà nghiên cứu tại Istanbul khi xử lý nước rỉ rác bằng keo tụ điện hóa (đạt 45% COD và 91,8% photpho ở mật độ dòng 15,9 mA/cm2). So sánh với các nghiên cứu sử dụng hệ oxy hóa nâng cao Fenton truyền thống tại bãi rác Thủy Tiên (Huế) tiêu tốn 125 mg/l H2O2 và 50 mg/l Fe2+ hay hệ Fenton 3 bậc tiêu tốn 750 mg/l H2O2 và 3.750 mg/l phèn sắt, keo tụ điện hóa chứng minh tính ưu việt khi loại bỏ hoàn toàn nhu cầu lưu trữ hóa chất oxy hóa dạng lỏng nguy hiểm và không làm tăng nồng độ anion sulfat (SO42-) trong nguồn nước sau xử lý. So với phương pháp ozon hóa tại Nam Sơn chỉ đạt hiệu suất khử COD 41% ở công suất 4,5 g O3/giờ, keo tụ điện hóa đạt hiệu suất cao hơn 11,6% với chi phí đầu tư ban đầu thấp hơn.

Các dữ liệu thực nghiệm trong luận văn có thể được trình bày thông qua hệ thống đồ thị động học biểu diễn độ suy giảm COD theo thời gian phản ứng từ 0 đến 60 phút, kết hợp với bảng ma trận tương quan giữa mật độ dòng điện (mA/cm2) và suất tiêu hao điện năng (kWh/kg COD). Cách trình bày này giúp các kỹ sư vận hành nhanh chóng nhận diện điểm cân bằng tối ưu giữa hiệu quả kỹ thuật và chi phí kinh tế.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các kết quả thực nghiệm, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp kỹ thuật cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả tiền xử lý nước rỉ rác:

Thứ nhất, chuẩn hóa quy trình công nghệ keo tụ điện hóa tại các trạm xử lý. Thiết lập thông số vận hành cố định với mật độ dòng điện duy trì từ 25 đến 30 mA/cm2, thời gian phản ứng từ 40 đến 45 phút, kiểm soát pH dòng vào trong ngưỡng 6,8 - 7,2 nhằm bảo đảm mục tiêu cắt giảm tối thiểu 50% COD và 40% Amoni; giao cho Đội ngũ kỹ sư vận hành trạm xử lý nước rỉ rác Nam Sơn triển khai áp dụng từ Quý 2/2024.

Thứ hai, tự động hóa chu kỳ đảo cực để bảo vệ điện cực. Lắp đặt biến tần và bộ điều khiển lập trình PLC nhằm đảo chiều cực tính dòng điện tự động theo chu kỳ 15 - 20 phút/lần, giúp triệt tiêu hiện tượng thụ động hóa bề mặt anot sắt, giảm 15 - 20% tổn thất điện áp do màng oxit và kéo dài tuổi thọ cụm điện cực lên gấp 2 lần; giao Ban Quản lý dự án môi trường thành phố chủ trì thực hiện trong thời gian 3 tháng.

Thứ ba, tích hợp module keo tụ điện hóa phía trước hệ thống màng lọc và bể sinh học SBR. Kết nối dòng nước thải sau xử lý điện hóa vào bể sinh học nhằm tận dụng tỷ lệ BOD5/COD đã được cải thiện, giúp giảm 50% tải lượng hữu cơ đi vào màng lọc thẩm thấu ngược (RO), kéo dài chu kỳ rửa ngược màng từ 2 ngày/lần lên 7 ngày/lần và nâng tuổi thọ màng thêm 35%; giao Công ty TNHH MTV Môi trường Đô thị Hà Nội (URENCO) phối hợp với các đơn vị chuyển giao công nghệ hoàn thành trong 6 tháng.

Thứ tư, tái thu hồi và tận dụng bùn thải giàu hydroxit sắt. Thiết lập hệ thống thu gom bùn cặn Fe(OH)3 sau lắng để phối trộn làm vật liệu xúc tác hấp phụ khí H2S trong các công trình xử lý khí sinh học hoặc làm nguyên liệu sản xuất phèn keo tụ tái sinh, hướng tới mục tiêu giảm 80% khối lượng bùn thải cần chôn lấp; phối hợp thực hiện giữa Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nội cùng các viện nghiên cứu chuyên ngành trong lộ trình 12 tháng.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung luận văn mang lại giá trị thực tiễn và học thuật cho 4 nhóm đối tượng chính:

Thứ nhất, các kỹ sư vận hành và cán bộ kỹ thuật tại các bãi chôn lấp chất thải rắn đô thị. Luận văn cung cấp trọn bộ thông số kỹ thuật thực nghiệm chi tiết (mật độ dòng điện, pH, thời gian phản ứng) giúp xử lý nhanh chóng tình trạng quá tải cục bộ tại các trạm xử lý nước rỉ rác công suất từ 500 đến 3.000 m3/ngày đêm, giải quyết triệt để sự cố tắc nghẽn màng lọc RO và sốc tải bể sinh học.

Thứ hai, các nhà nghiên cứu, giảng viên và học viên cao học ngành Công nghệ Môi trường và Kỹ thuật Hóa học. Tài liệu cung cấp cơ sở dữ liệu thực nghiệm chuẩn mực về động học phản ứng điện hóa trên nền mẫu nước rỉ rác thực tế có độ phức tạp cao, đóng vai trò là tài liệu tham khảo chuyên sâu cho các đề tài phát triển hệ thống lai ghép điện hóa - màng lọc (EC-MBR) hoặc quá trình oxy hóa nâng cao.

Thứ ba, các nhà quản lý đô thị và cơ quan hoạch định chính sách bảo vệ môi trường. Nguồn dữ liệu định lượng về suất tiêu hao điện năng 5,4 kWh/kg COD và chi phí xử lý trên mỗi mét khối nước rỉ rác là căn cứ khoa học xác đáng để thẩm định dự án đầu tư công, xây dựng định mức kinh tế - kỹ thuật và ban hành khung tiêu chuẩn tiền xử lý nước rỉ rác tại các đô thị loại I và loại II.

Thứ tư, các doanh nghiệp tư vấn thiết kế và nhà thầu EPC công trình môi trường. Luận văn cung cấp sơ đồ nguyên lý hệ thống, phương pháp lựa chọn vật liệu anot sắt, công thức tính toán dung tích bể phản ứng và công suất bộ nguồn một chiều, hỗ trợ trực tiếp cho việc lập hồ sơ thiết kế kỹ thuật và dự toán thầu các công trình xử lý nước thải công nghiệp đậm đặc.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao nên lựa chọn keo tụ điện hóa làm công đoạn tiền xử lý thay vì keo tụ hóa học truyền thống? Keo tụ điện hóa tự sản sinh các ion sắt hoạt tính Fe2+/Fe3+ trực tiếp từ quá trình hòa tan anot mà không cần châm hóa chất phèn lỏng hay chất trợ keo polyme. Công nghệ này giúp cắt giảm 25 - 30% thể tích bùn thải sinh ra, không làm gia tăng nồng độ các anion gốc muối như SO42- hay Cl- trong nguồn nước sau xử lý, loại bỏ hoàn toàn nguy cơ ô nhiễm hóa chất thứ cấp.

Đặc tính nào của nước rỉ rác bãi rác Nam Sơn gây trở ngại lớn nhất cho các công trình xử lý sinh học? Trở ngại lớn nhất là tỷ lệ BOD5/COD thấp (chỉ đạt khoảng 0,48 - 0,54) đi kèm nồng độ Tổng Nitơ cực cao, lên tới 2.887 mg/l. Nguồn nước chứa nhiều axit humic và axit fulvic bền vững cùng lượng amoni đậm đặc gây ức chế mạnh mẽ hoạt tính của vi sinh vật hiếu khí và kỵ khí, buộc phải áp dụng keo tụ điện hóa để phân cắt mạch hữu cơ và giảm độc tính trước khi đưa vào bể sinh học.

Vật liệu điện cực sắt mang lại những ưu thế kỹ thuật nào vượt trội so với điện cực nhôm? Điện cực sắt đem lại hiệu suất khử COD vượt trội đạt 52,6% so với 43,8% của điện cực nhôm ở cùng mật độ dòng điện 30 mA/cm2. Bông cặn Fe(OH)3 tạo thành có kích thước lớn và tỷ trọng cao hơn bông nhôm, giúp tốc độ lắng nhanh hơn và thể tích bùn sau lắng giảm 25%. Ngoài ra, chi phí thay thế anot sắt trên thị trường thấp hơn nhôm khoảng 30%.

Suất tiêu hao điện năng và chi phí vận hành của hệ thống keo tụ điện hóa trong nghiên cứu là bao nhiêu? Tại chế độ công nghệ tối ưu với dòng điện 3,0 A, pH = 7,0 và thời gian phản ứng 45 phút, mức tiêu hao điện năng thực tế đạt 5,4 kWh cho mỗi kg COD loại bỏ. Mức tiêu thụ này tương ứng với chi phí tiền điện dao động từ 8.500 đến 13.500 VNĐ/kg COD, hoàn toàn nằm trong ngưỡng chi phí cho phép đối với các hệ thống xử lý nước rỉ rác tập trung.

Keo tụ điện hóa có khả năng loại bỏ đồng thời các hợp chất nitơ trong nước rỉ rác hay không? Nghiên cứu chứng minh keo tụ điện hóa loại bỏ đồng thời 42,5% amoni (NH4+) nhờ cơ chế bay hơi amoniac cục bộ khi pH tăng tại lớp ranh giới catot, kết hợp tuyển nổi bọt khí. Đồng thời, quá trình này khử 38,7% nitrat (NO3-) nhờ phản ứng khử điện hóa trực tiếp trên bề mặt catot chuyển hóa nitrat thành khí nitơ không độc.

Kết luận

  • Xác lập thành công quy trình công nghệ tiền xử lý nước rỉ rác bãi rác Nam Sơn bằng keo tụ điện hóa với hiệu suất loại bỏ COD đạt 52,6%, Amoni đạt 42,5% và Nitrat đạt 38,7%.
  • Khẳng định điện cực sắt (Fe) là vật liệu anot tối ưu vượt trội so với nhôm (Al), giúp giảm 30% chi phí vật liệu và giảm 25% thể tích bùn cặn phát sinh sau xử lý.
  • Chuẩn hóa bộ thông số vận hành kinh tế - kỹ thuật: pH ban đầu 6,8 - 7,2, mật độ dòng điện 30 mA/cm2, thời gian phản ứng 45 phút, định mức tiêu thụ điện năng đạt 5,4 kWh/kg COD loại bỏ.
  • Cung cấp giải pháp tiền xử lý hiệu quả giúp cải thiện tỷ lệ phân hủy sinh học, giảm tải hữu cơ 50% cho các công đoạn màng lọc thẩm thấu ngược và xử lý sinh học phía sau.
  • Đóng góp luận cứ khoa học thực tiễn vững chắc cho dự án nghiên cứu cấp Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, mở ra hướng đi mới trong việc nâng cấp các trạm xử lý nước rỉ rác tại Hà Nội.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là đã hoàn thiện cơ sở dữ liệu thực nghiệm định lượng về ứng dụng công nghệ điện hóa môi trường trên nền mẫu nước rỉ rác đậm đặc tại Việt Nam. Kế hoạch tiếp theo đề xuất mở rộng thử nghiệm mô hình pilot liên tục công suất 5 - 10 m3/ngày trong lộ trình 6 - 9 tháng tới tại bãi chôn lấp Nam Sơn. Các kỹ sư, nhà khoa học và cơ quan quản lý quan tâm có thể tra cứu toàn văn luận văn tại thư viện Trường Đại học Khoa học Tự nhiên - Đại học Quốc gia Hà Nội để khai thác chi tiết các bảng số liệu và bản vẽ thiết kế công nghệ.