Đặt vấn đề Hệ thống cây ăn quả ở Việt Nam vô cùng phong phú, đa dạng, cung cấp ra thị trường nhiều loại quả có giá trị dinh dưỡng cao, không những vậy cây ăn quả còn cung cấp các sản phẩm có giá trị về mặt xuất khẩu mang lại nguồn thu nhập không nhỏ cho người dân. Hầu hết các loại trái cây đều có hàm lượng nước cao, nhiều chất dinh dưỡng, là môi trường thuận lợi cho các loại vi sinh vật gây hại phát triển làm cho tỷ lệ quả hư hỏng sau thu hoạch là rất lớn. Cây ăn quả thường mang tính thời vụ, thu hoạch quả diễn ra trong thời gian ngắn. Vì vậy, việc bảo quan sau thu hoạch là hết sức cần thiết đối với người sản xuất.
Chitosan - sản phẩm deaxetyl hóa chitin - dẫn xuất của polysaccarit có nhiều trong vỏ các loài động vật giáp xác. Khi dùng màng chitosan trong bảo quản thực phẩm giúp điều chỉnh độ ẩm, độ thoáng khí cho thực phẩm. Màng chitosan tương đối dai, có độ bền tương đương với một số chất dẻo vẫn được dùng làm bao gói [4] [10]. Trong công nghệ nano, hạt nano là một vật liệu quan trọng.
Một trong những hạt nano được sử dụng sớm và rộng rãi nhất là hạt nano bạc. Ở kích thước nano, bạc thể hiện những tính chất vật lý, hóa học, sinh học khác biệt và vô cùng quý giá, đặc biệt là tính kháng khuẩn. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng khi ở kích thước nano, hoạt tính sát khuẩn của bạc tăng lên khoảng 50.000 lần so với bạc ion. Nhờ khả năng kháng khuẩn tuyệt vời mà nano bạc đã được ứng dụng trong rất nhiều trong công tác bảo quản lương thực, thực phẩm [6].
Xuất phát từ những thực tiễn trên, tôi nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu tạo phức chất Chitosan - nano Bạc kháng vi sinh vật gây hư hỏng quả sau thu hoạch” 2 1.2 Mục đích và yêu cầu 1. Mục đích - Nghiên cứu tạo phức chất chitosan - nano bạc kháng vi sinh vật gây hư hỏng quả sau thu hoạch. Yêu cầu - Đánh giá được khả năng kháng một số vi sinh vật gây hư hỏng quả của chitosan - Đánh giá được khả năng kháng số vi sinh vật gây hư hỏng quả của nano bạc - Đánh giá được khả năng kháng một số vi sinh vật gây hư hỏng quả của phức chất chitosan - nano bạc. - Thử nghiệm được khả năng bảo quản một số loại quả (vải thiều, bưởi…) của phức chất chitosan - nano.
Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn. Ý nghĩa khoa học + Giúp học viên củng cố và hệ thống lại các kiến thức đã học và nghiên cứu khoa học. + Đưa ra được phương pháp nghiên cứu một vấn đề khoa học, xử lý và phân tích số liệu, cách trình bày một báo cáo khoa học. + Việc Nghiên cứu tạo phức chất Chitosan - nano Bạc kháng vi sinh vật gây hư hỏng quả sau thu hoạch khẳng định được tác dụng của phức chất chitosan - nano Bạc trong kháng vi sinh vật gây hư hỏng qua sau thu hoạch bằng các nghiên cứu thực nghiệm làm tiền đề cho các nghiên cứu ứng dụng tiếp theo.
Ý nghĩa thực tiễn Kết quả nghiên cứu là cơ sở cho việc sản xuất chế phẩm bảo quản an toàn, có khả kéo dài thời gian bảo quản và giữ được chất lượng sản phẩm, giảm thiểu tổn thất sau thu hoạch, nâng cao giá thành của các sản phẩm nông sản. 3 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Tổng quan về Chitosan 2.1 Nguồn gốc của Chitin và chitosan Chitin được Bracannot phát hiện lần đầu tiên vào năm 1811 trong cặn dịch chiết của một loại nấm và đặt tên là “fungine” để ghi nhớ nguồn gốc tìm ra nó. Năm 1823 Odier đã phân lập được một chất từ bọ cánh cứng và ông gọi là chitin hay “chitine” có nghĩa là lớp vỏ nhưng ông không phát hiện sự có mặt của nitơ.
Cuối cùng cả Bracannot và Odier đều cho rằng cấu trúc của chitin giống cấu trúc của cellulose [8]. Năm 1929 Karrer đun sôi chitin 24h trong dung dịch KOH 5% và đun tiếp 50 phút ở 160oC với kiềm bão hòa và ông đã thu được sản phẩm có phản ứng màu đặc trưng của thuốc thử, chất đó chính là chitosan. Việc nghiên cứu về dạng tồn tại, cấu trúc, tính chất lý hóa của chitosan đã được công bố từ những năm 30 của thế kỷ XX. Chitin là một polysaccharide tự nhiên với số lượng lớn đứng thứ hai sau cellulose.
Chitin tồn tại trong động vật, một số loại nấm [8]. Trong động vật, chitin là một thành phần cấu trúc quan trọng của một số động vật không xương sống như: côn trùng, nhuyễn thể, giáp xác và giun tròn. Trong động vật bậc cao monomer của chitin là thành phần chủ yếu trong mô da, giúp cho sự tái tạo và gắn liền các vết thương ở da. Ngoài ra, chitin còn có trong màng tế bào nấm họ Zygemycetes, các sinh khối nấm mốc, một số loại tảo,.
Trong nấm men Saccharomyces cerevisiae chitin chiếm 5% trọng lượng khô của thành tế bào. Hầu hết chitin nằm giữa các sẹo chồi, chỉ một phần nhỏ phân bố ở phần khác trên thành tế bào [8]. Trong các loài thủy sản đặc biệt là vỏ tôm, cua, mực hàm lượng chitin khá cao khoảng 3 - 41% so với trọng lượng khô. Vì vậy vỏ của chúng là nguồn nguyên liệu quan trọng để sản xuất chitin [8].1: Hàm lượng chitin có trong một số động vật giáp xác [10] STT Phân loại Hàm lượng chitin theo trọng lượng (%) 1 Đầu tôm 11 2 Vỏ tôm 27 3 Vỏ tôm phế thải hỗn 12 - 18 4 Vỏ tôm hùm 37 5 Càng cua tuyết 24 6 Chân cua tuyết 32 7 Mai mực ống 30 - 35 8 Đỉa biển 34 - 49 Chitosan là một polysaccharide sinh học với các đơn phân N-acetyl glucosamine được deacetyl hóa một phần, hiện diện tự nhiên trong vách một số giống nấm như Mucorales.
Tuy nhiên phần lớn chitosan hiện nay được thu nhận và sử dụng lại chủ yếu từ quá trình deacetyl hóa chitin. Cấu trúc hóa học của chitosan Chitosan thu được từ quá trình deacetyl hóa chitin, thay thế nhóm N- acetyl thành nhóm amin ở vị trí C2. Do quá trình khử acetyl xảy ra không hoàn toàn nên người ta quy ước nếu độ deacetyl hóa (degree of deacetylation) DD > 50% thì gọi là chitosan, nếu DD < 50% gọi là chitin [8]. Chitosan có cấu trúc tuyến tính từ các đơn vị 2-amino-2-deoxy-β-D- glucosamine liên kết với nhau bằng liên kết β-(1-4) glucozit.
Công thức cấu tạo của chitin và chitosan được thể hiện trong hình 2. Cấu trúc hóa học của Chitin 5 Hình 2. Cấu trúc hóa học của Chitosan Tên gọi khoa học: Poly(1-4) - 2-amino-2-deoxy-β-D-glucose; poly(1-4)- 2-amino-2-deoxy-β-D-glucopyranose. Công thức phân tử: [C6H11O4N]n Phân tử lượng: Mchitosan= (161,07)n Trong thực tế các mạch chitin - chitosan đan xen nhau, vì vậy tạo ra nhiều sản phẩm đồng thời, việc tách và phân tích chúng rất phức tạp.
Đặc tính kháng vi sinh vật của chitosan 2. Khả năng kháng virus, kháng nấm Chitosan ức chế hệ thống sinh sản của virus thực vật [4], mức độ ngăn cản sự truyền nhiễm virus khác nhau theo trọng lượng phân tử của chitosan, có nhiều nghiên cứu kết luận rằng chitosan có khả năng kháng lại virus khoai tây, thuốc lá, dưa chuột,…[4]. Hoạt tính kháng nấm của chitosan được chứng minh qua các nghiên cứu với nhiều loại nấm khác nhau: Saccharomycodes ludwigii, Pseudomonas fragi, Candida, zygosaccharomyces bailii, Pyricularia grisea,… Sự ức chế và làm ngưng hoạt động của nấm men, nấm mốc phụ thuộc vào nồng độ chitosan, pH, nhiệt độ, đặc điểm dinh dưỡng [34]. Khả năng kháng vi khuẩn Chitosan có khả năng ức chế sự phát triển của rất nhiều vi khuẩn như E.coli, Samonella, Vibiro parahaemolyticus, Listeria monocytogenes, Bacillus cereus, Staphylococcus aureus,…[35].
6 Ngoài ra các thí nghiệm cũng cho thấy có rất nhiều ion kim loại có thể ảnh hưởng đến đặc tính kháng khuẩn của chitosan như: K+, Na+, Mg2+, Ca2+… Nói chung các kết luận chính xác về cơ chế hoạt động kháng khuẩn của chitosan vẫn chưa được nghiên công bố rõ ràng, những cơ chế chính đã được đề xuất như sau [35]: - Tương tác giữa các ion tích điện dương trên các phân tử chitosan và các điện tích âm trên màng tế bào vi sinh vật dẫn đến thay đổi trong cấu trúc màng tế bào, thay đổi khả năng thẩm thấu gây rò rỉ protein và các thành phần khác trong tế bào, làm giảm chức năng sinh lý và sinh hóa của vi khuẩn dẫn đến mất khả năng bảo vệ, trao đổi chất của tế bào. - Chitosan đóng vai trò như chất chọn lọc liên kết với các ion kim loại, sau đó ức chế các chất độc và sự phát triển của vi khuẩn. - Chitosan liên kết với nước, ức chế các enzyme khác nhau. - Chitosan thâm nhập vào bào tương của các vi khuẩn và thông qua các liên kết với DNA, ngăn cản sự tổng hợp ARN và protein.
- Chitosan tạo thành một lớp cao phân tử không thấm nước trên bề mặt tế bào làm thay đổi tính thấm của tế bào bà ngăn các chất dinh dưỡng vào tế bào. - Chitosan có liên kết với các điện tích âm trong tế bào, làm chúng kết dính thành từng mảng, gây nhiễu loạn các hoạt động sinh lý của các vi sinh vật dẫn đến phá hủy tế bào. Ứng dụng của chitosan - Trong công nghiệp thực phẩm: Để bảo quản đóng gói thức ăn, bảo quản thực phẩm, hoa quả, rau tươi… Vì nó tạo màng sinh học không độc. Người ta đã tạo màng chitosan trên quả tươi để bảo quản quả đào, quả lê, quả kiwi, dưa chuột, ớt chuông, dâu tây, cà chua, quả vải, xoài, nho… dùng để lọc trong các loại nước ép quả, bia, rượu vang, nước giải khát …[16] 7 Là một polyme dùng an toàn cho người, lại có hoạt tính sinh học đa dạng, chitosan được đưa vào thực phẩm, thức ăn, bánh kẹo, nước giải khát.
Cơ quan bảo vệ môi trường của Mỹ (USEPA) đã cho phép chitosan không những được dùng làm thành phần thức ăn, mà còn dùng cả trong việc tinh chế nước uống. Còn ngay từ năm 1983 Bộ Thuốc và Thực phẩm Mỹ (USFDA) đã chấp nhận chitosan được dùng làm chất phụ gia trong thực phẩm và dược phẩm [16]. Màng chitosan tạo thành có tính kháng khuẩn, kháng nấm và hạn chế tổn thất chất dinh dưỡng cho thực phẩm. Tuy nhiên giá thành màng chitosan còn cao nên nhiều nghiên cứu đã tiến hành phối trọng chitosan/gelatin (40/60) và tỷ lệ chiosan/gelatin/natribenzoate (60/40/0,1%) là tối ưu về sự căng và độ co giãn.
Phi lê cá ngừ đại dương bao gói bằng 2 màng này có khả năng kháng khuẩn và hạn chế sự hình thành histamine trong quá trình bảo quản [17]. - Làm trong nước quả: Trong sản xuất nước quả việc làm trong là yêu cầu bắt buộc.