ĐẶT VẤN ĐỀ Mất gấp khuỷu là một di chứng nặng nề của chi trên làm suy giảm nghiêm trọng khả năng thực hiện các động tác sinh hoạt, lao động. Ảnh hƣởng xấu đến thẩm mỹ, tâm lý, chất lƣợng cuộc sống của ngƣời bệnh [1]. Brunelli so sánh ảnh hƣởng của khớp khuỷu mất gấp nặng nề ngang với mất một bàn tay bình thƣờng. Do vậy, gấp khuỷu là một trong các cử động cần thiết nhất của chi trên luôn cần đƣợc ƣu tiên chẩn đoán, điều trị phục hồi sớm [2], [3], [4], [5].
Nhiều nguyên nhân gây mất gấp khuỷu nhƣng thƣờng gặp là tổn thƣơng thần kinh vận động vùng đám rối cánh tay gây liệt các cơ vận động gấp khuỷu. Điều trị mất gấp khuỷu do tổn thƣơng thần kinh vận động có nhiều phƣơng pháp: Không phẫu thuật (nội khoa, châm cứu, phục hồi chức năng…); phẫu thuật phục hồi thần kinh bằng nối, ghép; phẫu thuật chuyển gân, cơ tại chỗ hoặc từ xa thay thế chức năng các cơ vận động gấp khuỷu. Trong đó, phẫu thuật phục hồi thần kinh bằng chuyển, ghép bằng kỹ thuật vi phẫu là phƣơng pháp mang lại hiệu quả cao nhất hiện nay. Tuy nhiên, khó thực hiện và kết quả phụ thuộc vào một số yếu tố nhƣ: nguồn cho thần kinh, thời điểm phẫu thuật, tuổi, mức độ tổn thƣơng… [6].
Phẫu thuật chuyển gân, cơ tại chỗ là phƣơng pháp điều trị khá phổ biến vì dễ thực hiện, kết quả tƣơng đối tốt. Đây là cứu cánh cuối cùng để phục hồi chức năng gấp khuỷu khi không thể thực hiện hoặc khi các phƣơng pháp điều trị khác thất bại [7]. Trong nhóm này có phẫu thuật chuyển điểm bám khối cơ trên ròng rọc lên trên cánh tay nhằm phục hồi chức năng gấp khuỷu. Kỹ thuật đƣợc Steindler thực hiện và mô tả lần đầu tiên năm 1918 nên mang tên tác giả.
Sau đó kỹ thuật đƣợc nhiều tác giả khác nhƣ Hussain A. ứng dụng và cải biên. 2 Trên thế giới, phƣơng pháp phẫu thuật Steindler cải biên bởi Mayer L. Kết quả phục hồi chức năng gấp khuỷu của phẫu thuật Steindler cải biên theo Rostoucher P.
Một số tác giả khác đạt từ 60% - 80% ở mức rất tốt và tốt. Nhƣ vậy, kết quả phẫu thuật còn tỷ lệ 20% - 40% chƣa tốt (trung bình, kém). Tại Việt Nam, mất gấp khuỷu do tổn thƣơng thần kinh vận động là bệnh lý hay gặp và khó điều trị hiện nay. Điều trị mất gấp khuỷu bằng phẫu thuật Steindler cải biên theo Mayer L., Green W (1954) đƣợc thực hiện trong nhiều năm qua với số lƣợng không nhỏ.
Hiện nay, kỹ thuật vẫn có giá trị thực tiễn cao, đƣợc một số phẫu thuật viên lựa chọn trong điều trị mất gấp khuỷu. Tuy nhiên, những đặc điểm bệnh lý mất gấp khuỷu do tổn thƣơng thần kinh vận động; kết quả phục hồi chức năng sau phẫu thuật; một số yếu tố liên quan, ảnh hƣởng tốt và không tốt đến kết quả phẫu thuật nhƣ: Tình trạng tổn thƣơng thần kinh, vị trí cố định mảnh xƣơng, phục hồi chức năng sau phẫu thuật. chƣa đƣợc các tác giả trong và ngoài nƣớc nghiên cứu đầy đủ. Thực hiện nghiên cứu về những nội dung nêu trên để đề ra đƣợc các giải pháp nâng cao kết quả điều trị, giảm tỷ lệ kết quả chƣa tốt của phẫu thuật Steindler cải biên là rất cần thiết.
Chính vì vậy, chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu một số yếu tố ảnh hƣởng và kết quả điều trị phục hồi gấp khuỷu bằng phẫu thuật Steindler cải biên” nhằm hai mục tiêu: 1. Nhận xét đặc điểm bệnh lý các trường hợp mất gấp khuỷu do tổn thương thần kinh vận động được điều trị bằng phẫu thuật Steindler cải biên. Đánh giá kết quả và xác định một số yếu tố liên quan ảnh hưởng đến kết quả phẫu thuật Steindler cải biên điều trị mất gấp khuỷu do tổn thương thần kinh vận động 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giải phẫu ứng dụng vùng khuỷu 1.
Giải phẫu khớp khuỷu Khớp khuỷu là khớp gấp duỗi cẳng tay, gồm ba khớp hợp thành là khớp ròng rọc nối xƣơng cánh tay với xƣơng trụ, khớp lồi cầu tiếp giáp với xƣơng quay và khớp quay trụ trên. Giữ các khớp có hệ thống dây chằng, diện khớp nối liền và cùng trong một bao hoạt dịch [9]. Diện khớp Đầu dƣới xƣơng cánh tay gồm mỏm lồi cầu ở ngoài, mỏm ròng rọc ở trong. Phía trƣớc có hõm vẹt, phía sau có hõm khuỷu.
Trên diện khớp có hai mỏm là trên ròng rọc và trên lồi cầu, đây là điểm bám của các cơ gấp, duỗi cổ, bàn tay [10]. Đầu trên xƣơng trụ có hình móc, ngành sau là mỏm khuỷu, ngành trƣớc là mỏm vẹt, giữa là hõm ròng rọc (hõm sigma lớn), phía bên ngoài là hõm quay (hõm sigma bé) tiếp khớp với chỏm xƣơng quay. Mỏm khuỷu thƣờng hình thành sau bẩy tuổi, bên phải lớn hơn bên trái [11]. Chỏm xƣơng quay đầu chỏm lõm (đài quay) xoay quanh dƣới lồi cầu.
Xung quanh chỏm tiếp xúc với xƣơng trụ [11]. Khớp khuỷu * Nguồn: Netter H. Phƣơng tiện nối khớp Bao khớp ở phía trƣớc mỏng, dính đến cổ xƣơng quay nên chỏm xƣơng xoay tự do trong khớp; khi bị chấn thƣơng thƣờng dẫn đến viêm bao khớp [13]. Dây chằng khớp cánh tay trụ, quay bao gồm dây chằng bên trong (Lig.
Collaterale ulnare), dây chằng bên ngoài (Lig. collaterale radiale), dây chằng trƣớc và dây chằng sau. Các dây chằng này bảo đảm vững chắc của khớp khuỷu khi gấp duỗi [14], [15]. Dây chằng bên trong hay bị tổn thƣơng, khuỷu sẽ bị vẹo ngoài [16].
Mặt trong khớp khuỷu * Nguồn: Hayter L. (2009)[17] Dây chằng khớp quay trụ trên gồm có dây chằng vòng và dây chằng vuông. Động tác khớp khuỷu Khớp khuỷu thực hiện các động tác gấp và duỗi cẳng tay [18]. Dây chằng trƣớc và các bó vẹt của dây chằng bên cản không cho cẳng tay duỗi quá mức ra sau.
Khi cẳng tay duỗi, cánh tay và cẳng tay tạo một góc mở ra ngoài nhƣng khi gấp, cẳng tay áp lên cánh tay, xƣơng trụ đƣa ra ngoài [19]. Biên độ: Gấp 150o, duỗi 00 có thể đến -10o nhất là phụ nữ và trẻ em. (1995) chức năng khớp khuỷu đƣợc xác định tốt khi biên độ vận động gấp duỗi khớp khuỷu trong khoảng 130o/0/30o; sấp ngửa từ 50o/0/-50o. Khi biên độ vận động khớp khuỷu giảm 50% thì chức năng chi trên sẽ giảm 80%.
Suy giảm chức năng vận động khớp khuỷu là một chỉ định phẫu thuật tuyệt đối trong nhiều trƣờng hợp [20]. Vai trò các cơ vùng khuỷu 1. Duỗi khuỷu Vận động duỗi khuỷu do cơ tam đầu (Triceps brachii) thực hiện. Cơ khuỷu (Anconeus) trợ giúp do dây thần kinh (TK) quay (C7, C8) chi phối.
Khi duỗi, cánh tay và cẳng tay hợp một góc mở ra ngoài khoảng 175 o. Cơ tam đầu (Tricipitis brachii) gồm ba phần là phần dài, cơ rộng ngoài và cơ rộng trong… Nguyên ủy của phần dài bám vào diện dƣới ổ chảo. Cơ rộng ngoài bám vào xƣơng cánh tay trên rãnh xoắn. Cơ rộng trong bám vào xƣơng cánh tay dƣới rãnh xoắn.
Bám tận bằng gân chung vào mỏm khuỷu, các trẽ bên nối với bao cân cẳng tay. Cơ khuỷu (Anconeus) có nguyên ủy ở mỏm trên lồi cầu. Bám tận vào xƣơng trụ. Cơ tam đầu * Nguồn: Ayhan E.
Gấp khuỷu Động tác gấp khuỷu do cơ nhị đầu, cơ cánh tay trƣớc thực hiện. Hai cơ này do TK cơ bì (C5, C6) chi phối vận động. Cơ ngửa dài do TK quay (C5, C6) chi phối. Cơ sấp tròn do TK giữa (C6) chi phối thực hiện.
Nguyên ủy cơ nhị đầu (biceps) có hai bó: Bó dài (cơ nhị đầu dài) bám vào diện trên ổ chảo, bó ngắn (cơ nhị đầu ngắn) bám vào mỏm quạ [22]. Bám tận vào lồi củ nhị đầu xƣơng quay bằng một gân dài. Động tác gấp cẳng tay vào cánh tay. Thần kinh vận động (TKVĐ) chi phối là TK cơ bì.
Cơ cánh tay trƣớc (M. Brachialis) nằm giữa cơ nhị đầu và xƣơng cánh tay. Nguyên ủy bám vào nửa dƣới xƣơng cánh tay (mặt ngoài và mặt trong). Bám tận vào mỏm vẹt của xƣơng trụ, bè ra hai bên cơ nhị đầu, chỗ bè là đáy của các máng nhị đầu trên có mạch máu và TK nằm.
Động tác làm gấp cẳng tay vào cánh tay. TKVĐ chi phối là TK cơ bì. Pronator teres) có nguyên ủy bám ở hai nơi. Đầu cánh tay bám vào mỏm trên ròng rọc, đầu trụ bám vào mỏm vẹt.
Giữa hai đầu có TK giữa đi qua. Cơ sấp tròn bám tận vào phần giữa mặt ngoài xƣơng quay. Động tác làm sấp và gấp cẳng tay. TKVĐ chi phối là một nhánh của dây TK giữa.
Brachioradialis) có nguyên ủy ở bờ ngoài xƣơng cánh tay, vách gian cơ ngoài. Bám tận vào mỏm trâm xƣơng quay. Động tác gấp cẳng tay vào cánh tay và ngửa cẳng tay. TKVĐ là một nhánh của TK quay.
Cơ nhị đầu có kích thƣớc lớn và cánh tay đòn dài lực gấp khuỷu mạnh nhất là khi cẳng tay ngửa hoặc tƣ thế trung bình. Lực gấp nhỏ nhất khi cẳng tay sấp. Động tác gấp khuỷu khi ngửa cẳng tay rất quan trọng trong lao động. Khi gấp khuỷu, các cơ gấp cần tác động lực gấp mƣời lăm lần trọng lƣợng vật bên ngoài.
Trong đó cơ nhị đầu cần tác động lực gấp 7 lần. Khi cơ nhị đầu liệt chức năng chi trên sẽ hạn chế cần phải điều trị phục hồi hoặc thay thế. Lực tác động của cơ nhị đầu. (2018) [23] Cơ cánh tay quay là một cơ lớn, nhƣng có cánh tay đòn nhỏ nhất, thuận lợi cơ học kém.
Cơ cánh tay quay có vai trò gấp khuỷu khi cẳng tay quay sấp. Cơ cánh tay quay nhỏ hơn nhƣng là cơ có cánh tay đòn dài nhất, do đó thuận lợi trong động tác gấp khuỷu. Cơ sấp tròn (Pronator teres) trợ giúp trong động tác gấp khuỷu. Khi tổn thƣơng TK cơ bì vẫn có thể gấp khuỷu nhƣng yếu do còn cơ cánh tay quay.
Khi tổn thƣơng C5, C6 sẽ mất gấp khuỷu hoàn toàn do liệt cả bốn cơ. Thần kinh chi phối vùng khuỷu Vùng khuỷu do đám rối thần kinh cánh tay (TKCT) chi phối. Cấu tạo giải phẫu Đám rối TKCT đƣợc cấu tạo bởi ngành trƣớc của dây sống C4, C5, C6, C7 và T1. Dây sống C4, C5, C6 họp thành thân nhất trên.
Dây sống C7 tạo thành thân nhất giữa. Dây sống C8 nối với T1 họp thành thân nhất dƣới. Mỗi thân nhất chia thành ngành trƣớc và ngành sau. Các ngành sau họp lại thành thân nhì sau.
Ngành trƣớc của thân nhất trên và giữa họp thành thân nhì trƣớc ngoài. Ngành trƣớc thân nhất dƣới, một mình tạo thành thân nhì trƣớc trong. Các ngành cùng gồm: Thân nhì trƣớc ngoài tách ra hai ngành cùng (từ ngoài vào trong) là TK cơ bì, rễ ngoài TK giữa.