Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Một số đặc điểm sinh học của gia cầm 1. Các dẫn xuất của da gia cầm Lông là dẫn xuất của da, là một đặc điểm di truyền của giống, có ý nghĩa phân loại và ý nghĩa kinh tế.
Gà con mới nở có lông tơ che phủ, cùng với sự sinh trưởng của gia cầm non, lông tơ dần dần được thay thế bằng lông cố định. Tốc độ mọc lông là sự biểu hiện mức độ mọc lông sớm hay muộn, biểu hiện theo một nhịp điệu có tính di truyền. Tốc độ mọc lông liên quan chặt chẽ đến cường độ sinh trưởng, những gia cầm lớn nhanh thì tốc độ mọc lông nhanh. (Brandsch và Billchel H.
Màu sắc lông do một số gen qui định, màu sắc lông phụ thuộc vào chất sắc tố chứa trong bào trứng của tế bào. Tùy theo mức độ oxy hóa các chất tiền sắc tố melanin (melanogen) có chứa trong các tế bào của lông. Bộ lông gia cầm có màu khác nhau như: màu đen, xám tro, màu tro… Nếu các chất sắc tố là nhóm lipoeron thì lông có màu vàng, xanh hoặc màu đỏ. Nếu không có chất sắc tố thì bộ lông màu trắng.
Công ty gia cầm Hạnh Nhân ở Trung Quốc đã tạo ra những dòng gà lông màu cho năng suất và chất lượng cao như gà Tam Hoàng 88%. Công ty Sasso đã tạo ra những dòng gà Label Saso lông màu có khả năng thích ứng rộng, phù hợp với vùng nhiệt đới và các phương thức nuôi khác nhau (theo Guinebert,1994) [8] - Mỏ: Có nguồn gốc vảy sừng, ngắn, cứng và chắc. Gà có mỏ dài và mảnh thì khả năng sản xuất thấp. Những giống gà da vàng thì mỏ cũng vàng, gà da đen thì mỏ cũng tối màu.
Ở gà mái màu sắc này cũng bị nhạt đi vào cuối thời kỳ đẻ trứng. Mỏ gà cần chắc chắn và ngắn. - Chân: Được bao phủ bằng lớp vảy sừng và có sự khác nhau về màu sắc. Bàn chân và ngón chân bao phủ một lớp vảy sừng tương tự như mỏ.
Gà 5 có khoảng cách giữa hai chân rộng thường được ưa thích hơn vì chân đứng rộng chứng tỏ thân rộng. Gà có chân chữ bát, các ngón cong và bộ xương khuyết tật không nên dùng làm giống. Chân gà có 4 ngón (trừ gà ác chân có 5 ngón). Chân thường có vuốt và cựa.
Cựa là một đặc điểm sinh dục phụ thứ cấp, có ở gà trống. Cựa có vai trò cạnh tranh và đấu tranh sinh tồn của loài. Hình dáng và kích thước các chiều đo Tùy mục đích sử dụng, các dòng gà được chia thành 3 loại hình: hướng trứng, hướng thịt và hướng kiêm dụng. Gà hướng trứng có thân hình thon nhỏ, cổ dài, nhẹ cân, dáng nhanh nhẹn.
Gà hướng thịt có thân hình to, thô, cổ dài trung bình, ngực nở, dáng đi nặng nề, khối lượng lớn. Gà kiêm dụng có hình dáng trung gian, cơ thể có hướng kiêm dụng trứng - thịt hoặc thịt - trứng. Một số chỉ tiêu sinh lý máu gà Máu là một trong những mô biệt hóa cao nhất ở dạng lỏng, lưu thông trong huyết quản, là nguồn gốc của tất cả các dịch thể, có ảnh hưởng sâu sắc đến các tổ chức, cơ quan trong cơ thể sống, là nội mô của cơ thể. Khi lưu thông huyết quản của vòng tuần hoàn lớn, máu thực hiện các chức năng sinh lý: tham gia vận chuyển sinh dưỡng và chất thải trong quá trình trao đổi chất, điều hòa thân nhiệt, vận chuyển các chất khí O2 và Co2 cho quá trình hô hấp mô bào.
Nhiệm vụ bảo vệ cơ thể là do các dạng protein miễn dịch, các kháng thể (phetixitin, inglutinin…) tồn tại trong huyết thanh, bạch cầu là phòng tuyến bảo vệ vững chắc sự xâm nhập của vi khuẩn. Cân bằng nước và muối khoáng trong cơ thể, tạo một hệ thống đệm rất hoàn chỉnh và hoạt động linh hoạt. Hồng cầu ở gia cầm có hình bầu dục, lồi hai mặt, có nhân nhỏ. Hồng cầu là loại tế bào có nhiều nhất trong máu, có chức năng vận chuyển khí O2 và Co2.
Số lượng hồng cầu và kích thước của nó phụ thuộc vào loài giống, mùa vụ, tuổi của gia cầm. Số lượng hồng cầu gà con dưới 5 ngày tuổi 2,3 6 triệu/mm3. Đến 3 - 4 tháng tuổi số lượng hồng cầu đạt tới mức như ở gia cầm trưởng thành 3 - 4 triệu mm3. Trong hồng cầu có 60 % là nước và 40 % là vật chất khô.
Trong vật chất khô có 90 - 95 % là hemoglobin, 3 - 8 % các protein khác, 0,5 % lexitin, 0,3% cholesteron, các muối kim loại chủ yếu là muối kali. Hồng cầu tăng khi con vật bị trở ngại về hô hấp (viêm phế quản, khí quản…) hoặc máu giảm trạng thái lỏng (ỉa chảy, tăng mô huyết…) Hồng cầu giảm khi cơ thể bị thiếu máu nghiêm trọng, khi mắc các bệnh siêu vi trùng, lao, ung thư, ký sinh trùng đường máu và các bệnh gây xuất huyết. Khi thức ăn nghèo sắt, đồng, một số acid amin, vitamin B12, vitamin C (Nguyễn Thị Minh, 2000) [20]. Hemoglobin (Hb) chiếm 9 - 14 % trong máu động vật khỏe mạnh.
Hemoglobin là một chromoprotein có cấu tạo globin (96%) và nhóm Hem (4%), kết cấu của nhóm Hem có nhân sắt (Fe) làm cho máu có màu đỏ, cũng như đồng (Cu) trong hemoxiamin làm máu loài nhuyễn thể có màu xanh da trời và Magie (Mg) trong chlorophyll làm cho lá cây có màu lục. Globin có bản chất protein nên hemoglobin mang tính đặc trưng cho loài. Hàm lượng hemoglobin còn đánh giá chất lượng của máu, mặc dù số lượng hồng cầu ít nhưng hàm lượng hemoglobin cao thì máu vẫn tốt. Hàm lượng hemoglobin trong máu gia cầm phụ thuộc vào tuổi và giống.
Gà mái Leghorn 6,7g/100ml máu; gà mái trưởng thành 8,9 g/100ml máu; gà trống trưởng thành 10,2g/100ml máu. Bạch cầu là loại tế bào có nhân, có bào trứng được phân loại thành: bạch cầu có nhân, các nhân nằm ở nguyên sinh chất, tùy theo tính chất bắt màu của các nhân mà phân ra hạch cầu trung tính, toan tính, kiềm tính. Bạch cầu không nhân gồm: lâm ba cầu và bạch cầu đơn nhân. Chức năng sinh lý của bạch cầu là bảo vệ cơ thể, chống lại những vi khuẩn xâm nhập vào máu và mô thông qua: phương thức thực bào, miễn dịch dịch thể (tiết kháng 7 thể và làm ngưng kết kháng nguyên), miễn dịch tế bào (không tiết kháng thể, nhưng cố định được độc tố ngay trên bản thân nó).
Thực bào là phương thức quan trọng nhất chống lại sự nhiễm trùng của cơ thể, là chức năng chỉ yếu của bạch cầu có hạt. Còn bạch cầu không hạt như: lâm ba cầu (lymphocytes) thì tham gia quá trình miễn dịch tế bào và miễn dịch dịch thể. Tỷ lệ các loại bạch cầu trong máu gọi là công thức bạch cầu. Khi sinh trưởng cơ thể thay đổi, công thức bạch cầu cũng biến đổi, dựa vào đó để chẩn đoán lâm sàng.
Bạch cầu trắng khi có bệnh nhất là chứng viêm, nhiễm trùng ở nơi có nhiều mầm bệnh. Bạch cầu là những tế bào có kích thước lớn hơn hồng cầu nhưng số lượng ít hơn nhiều lần so với hồng cầu. Số lượng bạch cầu của gà trong 1mm3 máu là 40 (20 - 60) nghìn. Số lượng bạch cầu phụ thuộc vào điều kiện nuôi dưỡng, tình trạng sức khỏe, đặc điểm giống, loài và các nguyên nhân khác.
Ngoài các chỉ tiêu sinh lý máu như hồng cầu, bạch cầu, hemoglobin còn các chỉ tiêu khác như: đông máu, lắng máu, thể tích hồng cầu, sức kháng thẩm thấu của hồng cầu, công thức bạch cầu cũng rất quan trọng. Trong chăn nuôi thú y có ý nghĩa xác định giống, chọn và lai tạo giống, trong chẩn đoán lâm sàng cũng có ý nghĩa quan trọng. Tính trạng sản xuất của gia cầm 1. Bản chất di truyền của các tính trạng sản xuất Khi nghiên cứu các tính trạng về tính năng sản xuất của gia cầm được nuôi trong điều kiện cụ thể, thực chất là nghiên cứu đặc điểm di truyền số lượng và ảnh hưởng của những tác động môi trường lên các tính trạng đó.
Hầu hết các tính trạng về năng suất của vật nuôi như sinh trưởng, sinh sản, mọc lông, tăng trưởng thịt, đẻ trứng đều là các tính trạng số lượng. Cơ sở di truyền của các tính trạng số lượng cũng do các gen nằm trên nhiễm sắc thể qui định. Theo Nguyễn Ân và cs (1983) [1] các tính trạng sản xuất là các tính 8 trạng số lượng, thường là các tính trạng đo lường như khối lượng cơ thể, kích thước các chiều đo, sản lượng trứng, khối lượng trứng. Các tính trạng số lượng thường bị chi phối bởi nhiều gen, các gen này hoạt động theo 3 phương thức: - Công gộp (A) hiệu ứng tích lũy của từng gen - Trội (D) hiệu ứng tương tác giữa các gen cùng một locus - Át gen (I) hiệu ứng do tương tác của các gen không cùng 1 locus Hiệu ứng cộng gộp (A) là các giá trị giống thông thường (general breeding value) có thể tính toán được, có ý nghĩa trong chọn lọc nhân thuần.
Hiệu ứng trội (D) và át gen (I) là những hiệu ứng không cộng tính và là giá trị giống đặc biệt (special breeding value) có ý nghĩa đặc biệt trong các tổ hợp lai. Ở các tính trạng số lượng, giá trị kiểu hình cũng do giá trị kiểu gen (kiểu di truyền) và sai lệch môi trường qui định. Những giá trị kiểu gen của tính trạng số lượng do nhiều gen có hiệu ứng nhỏ (minon gen) cấu tạo thành. Đó là các gen mà hiệu ứng riêng biệt của từng gen thì rất nhỏ, nhưng tập hợp lại sẽ ảnh hưởng rất rõ rệt tới tính trạng nghiên cứu, tính trạng sản xuất là một ví dụ (Nguyễn Văn Thiện, 1996)[25].
Khác với các tính trạng chất lượng, tính trạng số lượng chịu ảnh hương rất lớn bởi các yếu tố tác động của ngoại cảnh. Tuy các điều kiện bên ngoài không thể làm thay đổi cấu trúc di truyền nhưng nó tác động làm phát huy hay kìm hãm việc biểu hiện các hoạt động của các gen. Các tính trạng số lượng được qui định bởi kiểu gen và chịu ảnh hưởng nhiều của điều kiện ngoại cảnh, mối tương quan đó được biểu thị như sau: P=G+E Trong đó: P là giá trị kiểu hình, G là giá trị kiểu gen, E là sai lệch môi trường. 9 Giá trị kiểu gen (G) hoạt động theo ba phương thức: cộng gộp, trội và át gen.
Từ đó, G cũng có thể biểu thị theo: G=A+D+I Trong đó: G là giá trị kiểu gen, A là giá trị cộng gộp, D là giá trị sai lệch trội, I là giá trị sai lệch tương tác. Ngoài ra, các tính trạng số lượng còn chịu ảnh hưởng nhiều của môi trường.