ĐẶT VẤN ĐỀ Việt Nam vốn được biết đến như là quốc gia có nguồn tài nguyên phong phú và đa dạng (Sterling, Hurley, & Le Duc Minh, 2007). Tuy nhiên, vì những hạn chế lịch sử và nhận thức chưa cao nên việc phát huy tối đa nguồn lực chưa thực sự mang lại hiệu quả. Chính vì mặt trái của các hoạt động phát triển Kinh tế-xã hội không bền vững đã làm suy giảm chất lượng môi trường và các chức năng sinh thái vốn có của tự nhiên. Đặc biệt do thiếu nhận thức sâu sắc và đầy đủ tác động của các hoạt động sinh kế của cộng đồng dân cư địa phương đến nguồn tài nguyên ĐDSH nên chúng đang ngày càng suy giảm, nhiều loài biến mất hoặc trong tình trạng khó có thể phục hồi.
Các vườn quốc gia, các khu bảo tồn thiên nhiên luôn phải đối mặt với rất nhiều nguy cơ tiềm ẩn như: khai thác quá giới hạn cho phép các tài nguyên thiên nhiên; quá trình đô thị hóa nhanh gây ô nhiễm môi trường, khó khăn trong việc xử lý chất thải hay sức ép từ hoạt động du lịch… đây đều là những thách thức hàng đầu cần được quan tâm giải quyết. Khu dự trữ sinh quyển (DTSQ) quần đảo Cát Bà là một trong 09 khu DTSQ của Việt Nam, được thế giới công nhận ngày 02 tháng 12 năm 2004. Quần đảo Cát Bà là Trung tâm đa dạng sinh học cao của thế giới với nhiều loài quý hiếm có giá trị toàn cầu được Tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN) xếp loại. Cũng giống như một số khu bảo tồn ĐDSH khác, các hệ sinh thái đặc trưng của khu DTSQ Cát Bà luôn phải đối mặt với nguy cơ suy giảm đa dạng sinh học trước áp lực của việc phát triển nhanh kinh tế xã hội.
Rừng tự nhiên bị suy thoái do khai thác quá mức, các loài động thực vật suy giảm số lượng, một số loài động vật quý hiếm, đặc trưng của Cát Bà ngày càng hiếm gặp. Để giải quyết tốt vấn đề này đòi hỏi có sự kết hợp hài hòa giữa các nhóm giải pháp khác nhau. Trong đó, nhân tố tăng cường nhận thức cộng đồng có ý nghĩa quan trọng trong việc thúc đẩy bảo vệ môi trường bền vững. Theo Nguyễn Thế Thôn (1993, 2000), cộng đồng là nhân tố quyết định rất lớn đến sự duy trì và phát triển tài nguyên, bảo vệ đa dạng sinh học.
Kinh nghiệm quản lý bảo tồn trên thế giới cũng chỉ ra rằng trong công tác bảo tồn đa dạng sinh học cần có sự tham gia tích cực của cộng đồng, trên cơ sở nhận thức và sáng kiến c 2 của địa phương trong việc sử dụng hợp lý tài nguyên. Kinh nghiệm thực tiễn tại Việt Nam cũng cho thấy việc phát triển mô hình cộng đồng bảo tồn và sử dụng hợp lý tài nguyên, đa dạng sinh học sẽ góp phần quản lý bền vững tài nguyên rừng trong các khu dự trữ sinh quyển, vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên,… đồng thời nâng cao đời sống người dân địa phương, thúc đẩy sự phát triển bền vững, hài hòa giữa con người và thiên nhiên tại khu vực. Tuy nhiên, mỗi một khu bảo tồn, vườn quốc gia lại có những đặc thù riêng về hệ sinh thái, điều kiện kinh tế xã hội… dẫn đến những nét đặc trưng trong các mô hình bảo tồn, thậm chí tập quán thói quen sinh hoạt của cộng đồng địa phương tại khu vực bảo tồn cũng là một trong những yếu tố cần quan tâm khi muốn xây dựng những mô hình bảo tồn có sự tham gia của cộng đồng thành công. Chính vì vậy, đề tài: “Nghiên cứu m i quan h t ng tác giữa cộng đồng v i các h sinh thái r ng trong Khu dự trữ sinh quyển quần đảo Cát Bà”được thực hiện nhằm góp phần bổ sung một số cơ sở khoa học và giải pháp bảo tồn các diện tích rừng có giá trị cao về sinh thái, môi trường và kinh tế-xã hội tại khu DTSQ quần đảo Cát Bà.
c 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu trên thế giới 1. Nghiên cứu về cộng đồng t i vi c bảo tồn đa dạng sinh học 1. Đánh giá nhận thức, thái độ và tác động của cộng đồng địa phương tới việc bảo tồn đa dạng sinh học (ĐDSH) Nhận thức và thái độ của cộng đồng Richard và Barbara (2001) đã chỉ ra rằng, việc tạo cho người dân cơ hội tiếp cận với kinh nghiệm bảo tồn trên thế giới sẽ đảm bảo chương trình thành công hơn là việc Chính phủ và các công ty áp đặt các kế hoạch bảo tồn mà không có sự tham gia của người dân.
Kết quả cũng chỉ ra rằng, tất cả các chương trình giáo dục bảo tồn nên lấy cộng đồng làm trung tâm cùng với những vấn đề ngôn ngữ, văn hóa, lịch sử,… tại địa phương làm nền tảng cho việc thiết kế các chương trình. Các nội dung ảnh hưởng đến nhận thức và thái độ của cộng đồng trong bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và động vật hoang dã thường được đánh giá bao gồm sự khác biệt về nhận thức theo giới tính, dân tộc hay nhóm cộng đồng thiểu số, vị trí địa lí của các làng hay khu vực sinh sống của các nhóm cộng đồng dân cư, điều kiện sống của người dân sống quanh sinh cảnh và trình độ học vấn. Các nghiên cứu đã cho thấy sự khác biệt về nhận thức và thái độ giữa các nhóm cộng đồng theo những nội dung trên và chỉ ra rằng khi thiết kế các chương trình giáo dục bảo tồn và nâng cao nhận thức cần phù hợp đối với từng cộng đồng dân cư (Caro và cs, 1994; Padua, 1994; Engels và Jacobson, 2001; Johnson-Pynn và Johnson, 2005; Rajakaruna và cs, 2009). Sự tham gia của cộng đồng địa phương trong các hoạt động bảo tồn Theo Roe và cs (2000), phương thức bảo tồn truyền thống và có sự tham gia đều có tính hạn chế.
Cụ thể, phương thức truyền thống không giải quyết được lợi ích giữa các bên liên quan, và người dân không có quyền làm chủ các khu rừng mà họ đã sử dụng lâu đời. Tuy nhiên, phương thức có sự tham gia tùy thuộc rất nhiều c 4 vào cơ chế chính sách trong quản lý tài nguyên (Fred, 2009); tính minh bạch trong quá trình xây dựng cơ chế hưởng lợi và tiềm năng về tính không hiệu quả của cơ chế; thiếu nguồn tài trợ thích hợp và khả năng quản lý của cộng đồng địa phương vẫn là những vấn đề cần phải bàn.Để làm rõ hơn vấn đề này, Adams và Hulme (2001) lập luận rằng vấn đề quan trọng ở đây là đặt ra câu hỏi “Ai sẽ thiết lập các mục tiêu cho chính sách bảo tồn? và làm thế nào để có sự thỏa hiệp giữa các mục tiêu khác nhau của các nhóm lợi ích khác nhau? Sự tham gia của cộng đồng địa phương vào quản lý các KBT ở mức độ nào là thích hợp? Trách nhiệm của cộng đồng địa phương cần được thể hiện như thế nào trong tất cả các hoạt động liên quan đến lợi ích chung của khu bảo tồn? Làm thế nào để hỗ trợ cộng đồng địa phương lập kế hoạch quản lý lâu dài và xác lập cơ chế hưởng lợi rõ ràng, minh bạch, công bằng, đơn giản là những vấn đề rất cần phải tính đến Trong những thập kỷ qua, các phương thức bảo tồn ở những nước đang phát triển đã được cách mạng hoá bằng một loạt các ý tưởng liên quan đến cộng đồng địa phương sinh sống trong và xung quanh các khu bảo tồn. Người dân và cộng đồng địa phương sinh sống trong và gần các khu bảo tồn ở các nước đang phát triển thường rất nghèo, và họ có ít cơ hội để phát triển (Scherl và Edwards, 2007). Vì vậy, sinh kế của họ phụ thuộc rất nhiều vào khai thác tài nguyên nhiên nhiên.
Tuy nhiên, việc thành lập mạng lưới các khu bảo tồn đã ngăn cản họ sử dụng tài nguyên nhiên nhiên mà họ đã khai thác và sử dụng lâu đời. Hơn thế nữa, thành lập các khu bảo tồn thường làm hạn chế các cơ hội sử dụng đất trong tương lai, làm tăng chi phí sản xuất và giảm cơ hội phát triển kinh tế cho người dân địa phương. Hậu quả là người dân địa phương săn bắt động vật hoang dã và khai thác gỗ bên trong các khu bảo tồn là điều hiển nhiên (Stolton và cs, 1999) Từ những vấn đề trên, các sáng kiến về bảo tồn tài nguyên đa dạng sinh học theo hướng phát triển bền vững đã ra đời. Những sáng kiến này được đề cập đến bằng nhiều thuật ngữ khác nhau như bảo tồn và phát triển tổng hợp, đồng quản lý, bảo tồn dựa vào cộng đồng, bản thỏa thuận chia sẻ lợi ích và sử dụng bền vững tài nguyên rừng.
Điều này được thể hiện qua sự thay đổi hình thức trong quản lý rừng và phân quyền trong quản lý các khu bảo tồn của IUCN. Bên cạnh đó, Dudley (2008) cũng nhấn mạnh rằng một khu bảo tồn thiên nhiên phải có sự công bằng giữa chi phí và lợi ích giữa các bên liên quan, trong đó chú trọng đảm bảo lợi ích của cộng đồng địa phương và đồng bào dân tộc ít người. Những hình thái quản lý rừng này đã bước đầu có những ảnh hưởng tích cực đến các mục tiêu quản lý của khu bảo tồn, đảm bảo an ninh sinh kế cho cộng đồng và giảm thiểu mẫu thuẫn giữa ban quản lý khu bảo tồn và cộng đồng địa phương, và giảm áp lực hỗ trợ tài chính cho các nhà tài trợ. Việc này đã được chứng minh ở một số nơi, điển hình là Nam Phi qua việc phân quyền quản lý tài nguyên thiên nhiên cho cộng đồng địa phương, đã đóng góp rất lớn vào phục hồi tài nguyên rừng và động vật hoang dã.
Vai trò của cộng đồng địa phương tới việc bảo tồn ĐDSH Sự tham gia của người dân địa phương và bản địa trong quản lý đa dạng sinh học là cần thiết bởi hai lý do có tính nguyên tắc. Thứ nhất là nếu thiếu điều này, sự bền vững lâu dài của nhiều hệ sinh thái sẽ bị đe doạ. Thứ hai là người dân địa phương và bản địa có quyền được hưởng lợi nhờ sử dụng bền vững đa dạng sinh học cho sinh kế, nghỉ dưỡng, các nhu cầu văn hoá xã hội và các lý do tâm linh của họ. Tuy nhiên đây là những lý do chính nhất cho sự tham gia của địa phương vào quản lý đa dạng sinh học còn rất nhiều những lợi ích về quản lý khác cũng cần được cân nhắc.
Những quyết định về quy hoạch, kế hoạch bảo tồn đa dạng sinh học sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cuộc sống cộng đồng.