Luận văn thạc sĩ nghiên cứu dự đoán vùng phân bố của loài chà vá chân đen pygathrix nigipes dưới ảnh hưởng của biến đổi khí hậu

Nghiên cứu dự đoán vùng phân bố loài chà vá chân đen pygathrix nigipes dưới tác động của biến đổi khí hậu, cung cấp thông tin quan trọng cho bảo tồn.

Trường đại học

Trường Đại học Lâm nghiệp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn tốt nghiệp

2016

98
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về Nghiên Cứu Biến Đổi Khí Hậu và Chà Vá Chân Đen

Nghiên cứu về biến đổi khí hậu và sự phân bố của loài Chà vá chân đen (Pygathrix nigripes) tại Việt Nam là một chủ đề quan trọng. Biến đổi khí hậu đang ảnh hưởng sâu sắc đến đa dạng sinh học, đặc biệt là các loài động vật hoang dã. Chà vá chân đen là một trong những loài đặc hữu của Việt Nam, đang đối mặt với nhiều thách thức từ biến đổi khí hậu.

1.1. Tình hình hiện tại của biến đổi khí hậu tại Việt Nam

Việt Nam là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất từ biến đổi khí hậu. Nhiệt độ trung bình tăng cao, mực nước biển dâng lên, và các hiện tượng thời tiết cực đoan ngày càng gia tăng.

1.2. Đặc điểm sinh học của loài Chà vá chân đen

Chà vá chân đen là loài động vật có vú lớn, sống chủ yếu trong các khu rừng nhiệt đới. Chúng có đặc điểm nhận diện dễ dàng với bộ lông màu xám và chân dài. Loài này được xếp vào danh sách đỏ và cần được bảo tồn.

II. Vấn đề và Thách thức trong Bảo Tồn Chà Vá Chân Đen

Sự biến đổi khí hậu đang tạo ra nhiều thách thức cho việc bảo tồn loài Chà vá chân đen. Các yếu tố như mất môi trường sống, sự thay đổi khí hậu và áp lực từ con người đang đe dọa sự tồn tại của loài này.

2.1. Tác động của biến đổi khí hậu đến môi trường sống

Môi trường sống của Chà vá chân đen đang bị thu hẹp do biến đổi khí hậu. Sự thay đổi về nhiệt độ và lượng mưa ảnh hưởng đến sự phát triển và sinh sản của chúng.

2.2. Áp lực từ con người và khai thác tài nguyên

Sự gia tăng dân số và khai thác tài nguyên thiên nhiên đã dẫn đến việc mất môi trường sống của Chà vá chân đen. Điều này làm tăng nguy cơ tuyệt chủng cho loài này.

III. Phương pháp Nghiên cứu và Dự đoán Phân bố Loài Chà Vá Chân Đen

Nghiên cứu sử dụng các phương pháp mô hình hóa để dự đoán sự phân bố của Chà vá chân đen dưới tác động của biến đổi khí hậu. Các mô hình này giúp xác định các khu vực có khả năng sinh sống cao cho loài này trong tương lai.

3.1. Mô hình hóa vùng phân bố ENMs

Mô hình hóa vùng phân bố (ENMs) là một công cụ quan trọng trong nghiên cứu bảo tồn. Nó giúp xác định các khu vực thích hợp cho sự tồn tại của Chà vá chân đen dựa trên các yếu tố môi trường.

3.2. Sử dụng mô hình MaxEnt trong nghiên cứu

Mô hình MaxEnt được sử dụng để dự đoán vùng phân bố tiềm năng của Chà vá chân đen. Mô hình này dựa trên dữ liệu hiện có và các yếu tố môi trường để đưa ra dự đoán chính xác.

IV. Kết quả Nghiên cứu và Ứng dụng Thực tiễn

Kết quả nghiên cứu cho thấy sự thay đổi trong phân bố của Chà vá chân đen dưới tác động của biến đổi khí hậu. Các khu vực có khả năng sinh sống cao đã được xác định, giúp định hướng cho các hoạt động bảo tồn.

4.1. Kết quả mô phỏng vùng phân bố hiện tại

Mô phỏng cho thấy rằng vùng phân bố hiện tại của Chà vá chân đen đang bị thu hẹp. Các khu vực rừng nhiệt đới là nơi sinh sống chủ yếu của chúng.

4.2. Đề xuất các khu vực ưu tiên bảo tồn

Nghiên cứu đã xác định các khu vực ưu tiên cần được bảo tồn để bảo vệ Chà vá chân đen. Các khu vực này cần được quản lý chặt chẽ để đảm bảo sự tồn tại của loài.

V. Kết luận và Tương lai của Nghiên cứu

Nghiên cứu về biến đổi khí hậuChà vá chân đen mở ra nhiều hướng đi mới cho công tác bảo tồn. Cần có các biện pháp hiệu quả để giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu và bảo vệ loài này.

5.1. Tầm quan trọng của bảo tồn đa dạng sinh học

Bảo tồn đa dạng sinh học là cần thiết để duy trì cân bằng sinh thái. Chà vá chân đen là một phần quan trọng trong hệ sinh thái rừng nhiệt đới Việt Nam.

5.2. Hướng đi tương lai cho nghiên cứu và bảo tồn

Cần tiếp tục nghiên cứu và theo dõi sự thay đổi của môi trường sống để có các biện pháp bảo tồn hiệu quả hơn cho Chà vá chân đen và các loài khác.

30/06/2025
Luận văn thạc sĩ nghiên cứu dự đoán vùng phân bố của loài chà vá chân đen pygathrix nigipes dưới ảnh hưởng của biến đổi khí hậu

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Theo Báo cáo triển vọng Môi trường toàn cầu của Liên Hợp quốc 2007, Biến đổi khí hậu (BĐKH) đã và đang diễn ra trên phạm vi toàn cầu. Đặc biệt, Việt Nam đứng thứ 5 trong danh sách các nước bị ảnh hưởng bởi khí hậu. BĐKH đang là vấn đề được cả thế giới quan tâm, là những thay đổi theo thời gian của khí hậu, bao gồm cả những biến đổi của tự nhiên và do con người gây ra. Các nguy cơ mà BĐKH có thể ảnh hưởng đến Việt Nam như sự dâng lên của nước biển, lũ lụt, bão.Trong bối cảnh BĐKH đã và đang gây ra các hậu quả nặng nề, Việt Nam coi ứng phó với BĐKH là vấn đề sống còn.

Biến đổi khí hậu gây ảnh hưởng đến nhiều mặt trong đó có đa dạng sinh học, đó là một trong các thành phần bị tác động trực tiếp và gây hậu quả rõ ràng. Biến đổi khí hậu sẽ làm thay đổi điều kiện môi trường sống gây ảnh hưởng đến sự phát triển, sinh sản và đời sống của các loài. Hơn nữa, BĐKH làm thay đổi sự phân bố của các loài, góp phần làm suy thoái đa dạng sinh học. Từ thực tế đó, việc đánh giá và dự đoán về ảnh hưởng của BĐKH đến phân bố của một loài sinh vật nào đó là hết sức quan trọng, có thể thấy được hiện trạng và xu hướng biến đổi của các loài nhằm đưa ra những quyết định quản lý cũng như bảo tồn một cách thích hợp nhất.

Chúng ta cũng biết rằng, các loài sinh vật muốn phát triển một cách bình thường cần phải có một môi trường sống phù hợp, tương đối ổn định về nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng, đất đai, thức ăn, nguồn nước.và các loài sinh vật trong nơi sống đó. Chỉ một trong những nhân tố của môi trường sống bị biến đổi, sự phát triển của một loài sinh vật nào đó sẽ bị ảnh hưởng, thậm chí có thể bị diệt vong, tùy thuộc vào mức độ biến đổi nhiều hay ít. Theo dự báo, nếu không có biện pháp hữu hiệu để giảm bớt lượng khí nhà kính, nhiệt độ 2 trái đất sẽ tăng thêm từ 1,80C đến 6,40C vào năm 2100, lượng mưa sẽ tăng thêm 5 -10%[12]. Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia có khu hệ thú linh trưởng đa dạng về thành phần loài ở khu vực Châu Á.

Các nghiên cứu gần đây đã ghi nhận ở Việt Nam có 6 giống với 25 loài và phân loài thuộc 3 họ: họ Cu li (Loridae), họ Khỉ (Cercopithecidae) và họ Vượn (Hylobatidae) của bộ linh trưởng (Primate) (Phạm Nhật, 2002; Brandon và cs. 2004; Đặng Ngọc Cần, 2008). Giống Chà vá (Pygathrix) thuộc Họ Khỉ (Cercopithecidae) đã được đưa vào Sách đỏ Việt Nam. Đây cũng là những loài động vật nghiêm cấm khai thác và buôn bán, được quy định trong Nghị định 32/2006/NĐ-CP và Nghị định 160/2013/NĐ-CP.

Giống Chà vá gồm có 3 loài: Chà vá chân xám, Chà vá chân nâu và Chà vá chân đen[14]. Chà vá chân đen (Pygathrix nigipes) là loài đặc hữu của Việt Nam và Campuchia. Theo danh mục Sách Đỏ thế giới (IUCN Red list, 2016) và sách đỏ Việt Nam (2007) Chà vá chân đen được xếp vào bậc Nguy cấp - EN. Qua các nghiên cứu trước đây cho thấy, loài Chà vá chân đen có phân bố và giới hạn hẹp.

Đồng thời, BĐKH tác động mạnh mẽ tới sinh cảnh, môi trường. Vì vậy, để góp phần đánh giá mức độ, phân bố và ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và việc bảo tồn các loài quý hiếm này tại Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung, tôi chọn đề tài “Nghiên cứu dự đoán vùng phân bố của loài Chà vá chân đen (Pygathrix nigipes) dưới ảnh hưởng của biến đổi khí hậu”. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Họ khỉ - Cercopithecidae Tất cả các loài khỉ tại Châu Âu, Châu Á và Châu Phi đều thuộc họ Cercopithecidae.

Đặc điểm đặc trưng của các loài này bao gồm: chân sau dài hơn chân trước; đuôi không có khả năng cầm nắm, mũi và hàm hẹp. Dựa vào các đặc điểm giải phẫu thích nghi với các chế độ ăn khác nhau, họ này được chia thành hai phân họ. Các loài khỉ có túi má, phân họ Cercopithecidae, gồm 5 loài khỉ, Macaca. Chiều dài đuôi của các loài thuộc nhóm này có sự khác biệt nhau, túi ở má lớn, hàm dài, răng khỏe và dạ dày đơn giản.

Đây là nhóm động vật ăn tạp, trong tự nhiên hoạt động cả dưới mặt đất và trên cây. 10 loài voọc hay còn gọi là “Khỉ ăn lá”, 6 loài thuộc giống Trachypithecu, 3 loài thuộc giống Pygathrix và 1 loài thuộc giống Rhinopithecus là các đại diện thuộc phân họ khỉ thứ hai, họ Colobinae. Chúng có răng yếu và dạ dày kết túi. Nhóm này gồm các loài hoạt động hoàn toàn trên cây và ăn lá cây.

Quần thể của một số loài thuộc họ khỉ đang suy giảm mạnh do áp lực săn bắn[8]. Trên thế giới: có 81 loài. Ở Việt Nam: có 15 loài, bao gồm: 1. Khỉ đuôi lợn (Macaca leonina) 2.

Khỉ đuôi dài (Macaca fascicularis) 6. Voọc đen má trắng (Trachypithecus francoisi) 7. Voọc Hà Tĩnh (Trachypithecus hatinhensis) 8. Voọc mông trắng (Trachypithecus delacouri) 9.

Voọc đầu trắng (Trachypithecus poliocephalus) 4 10. Chà vá chân nâu (Pygathrix nemaeus) 13. Chà vá chân đen (Pygathrix nigripes) 15. Voọc mũi hếch (Rhinopithecus avunculus) Chà vá là loài khỉ lớn so với những loài voọc khác, kích thước cơ thể dài từ 53 – 63cm.

Cơ thể có trọng lượng trung bình từ 5,3 – 11,5kg với nhiều màu sắc. Đuôi màu trắng với kích thước tương đương chiều dài của cơ thể. Chi sau dài hơn chi trước. Đầu không có mào nhọn trên đỉnh.

Lông ở trên đầu chải ngược về phía sau. Đôi mắt hình quả hạnh và góc mắt hơi nghiêng. Dương vật của con đực trưởng thành có màu đỏ. Màu sắc của con đực trưởng thành và con cái như nhau ngoại trừ ở con đực có một túm lông trắng ở phía trên mỗi góc hình tam giác ở gốc đuôi.

Màu lông con non của 3 loài chà vá tương đối giống nhau với màu vàng cam, khuôn mặt hơi đỏ xanh, mắt màu vàng sáng. Đỉnh đầu có màu hơi đỏ đen, dọc theo sống lưng có một đường màu đen. Màu sắc của 3 loài đã có sự khác biệt rõ ràng. Chà vá chân xám và Chà vá chân đỏ khuôn mặt có màu vàng cam.

Chà vá chân đen khuôn mặt có màu xanh. Màu lông phía sau lưng đậm hơn so với Chà vá chân đỏ, nhưng màu lông ở phía trước bụng lại sáng hơn. Chi sau 3 loài có màu sắc được thể hiện ở tên gọi của mỗi loài: Chà vá chân đỏ có màu nâu đỏ, Chà vá chân đen có màu đen, Chà vá chân xám có màu xám tro[8].  Vùng phân bố giống Pygathrix Giống Pygathrix có phân bố giới hạn ở Việt Nam, Lào, Campuchia, phía đông của sông Mê Kông (Corbet và Hill, 1992).

Chà vá chân nâu (Pygathrix nemaeus) phân bố từ khoảng 19030’N đến 16000’N từ tỉnh Nghệ An đến Quảng Nam. Chà vá chân xám (Pygathrix cinerea) phân bố từ 15050’N đến 5 14030’N ở huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam đến Khu bảo tồn Kon Cha Rang, tỉnh Gia Lai. Chà vá chân đen (Pygathrix nigripes) phân bố từ 14030’N đến 11000’N bao gồm khu vực Tây Nguyên, Nam Trung bộ và Đông Nam Bộ[8].1: Bản đồ phân bố các loài Chà vá ở Việt Nam 7  Chà vá chân đen (Pygathrix nigripes) Chà vá chân đen là loài thú lớn: Dài thân – đầu 55 – 68cm; đuôi 64 – 70 cm; trọng lượng 8 – 11 kg. Loài chà vá chân đen có đôi chân dài màu xám thẫm [8].

Các ngón tay, ngón chân cũng có màu đen. Thân màu xám và có sự trộn lẫn của các màu đen, trắng và xám. Cánh tay dài, toàn bộ có màu xám. Khuân mặt màu xanh nhạt, xung quanh mắt màu sữa.

Trán màu đen. Đuôi dài vùng lông xung quanh cơ quan sinh dục có màu trắng. Tính tình nhút nhát, thường xuyên sống trên vùng cây cao và trung bình. Di chuyển bằng tứ chi dọc theo các cành cây lớn ở tầng cao trung bình.

Thức ăn bao gồm lá cây, cuống lá, chồi non, các loại quả và hạt cây. Chúng phân bố trong các khu rừng thường xanh, rừng nửa rụng lá và rừng ven sông phía Nam Việt Nam[8]. Tình trạng bảo tồn: - Tình trạng bảo tồn: NĐ 32/2006/NĐ-CP, nhóm IB/6 - Nghị định số 160/2013/NĐ-CP - SĐVN (2007): EN (Nguy cấp) - SĐ IUCN (2016): EN (Nguy cấp) - CITES: Phụ lục I Hình 1. Chà vá chân đen (Nguồn: www.

Nghiên cứu ảnh hƣởng của biến đổi khí hậu tới đa dạng sinh học ở Việt Nam 1. Phương pháp mô hình hóa vùng phân bố Mô hình hóa vùng phân bố (ENMs) là một phương pháp đánh giá điều kiện thích hợp cho một loài nhất định và là một mô hình ngày càng phổ biến trong nghiên cứu bảo tồn. 8 ENMs xử lý các dữ liệu bằng chương trình thuật toán trên máy tính để tạo bản đồ dự đoán phân bố của các loài trong không gian địa lý, căn cứ vào các thông số môi trường (nồng độ chất ô nhiễm, nhiệt độ, độ cao, tốc độ gió,…) và các dữ liệu quan sát về loài đó. Việc áp dụng mô hình này bao gồm nội suy giữa các bản ghi dữ liệu bản ghi dữ liệu sẵn có giới hạn; nghiên cứu phân kỳ giữa phân phối tiềm năng và thực tế; cũng như thay đổi khí hậu hay các yếu tố khác (Andrew S, 2003).

Mô hình hóa vùng phân bố (ENMs) sử dụng mối quan hệ giữa các điểm quan trắc và các biến môi trường để tạo ra một bản đồ khu vực nơi mà các loài có thể tồn tại. ENMs có thể giúp xác định sinh cảnh, khu vực thích hợp cho một loài sinh sống (Peterson 2006; Pearson et al 2007,…). Ngoài ra, ENMs còn hỗ trợ đánh giá sự thay đổi của sinh cảnh trong khoảng thời gian dựa trên các kịch bản về sự thay đổi môi trường. ENMs có thể sử dụng nhiều biến khí hậu khác nhau, các dữ liệu thường được sử dụng trong mô hình ổ sinh thái là các chỉ số môi trường: Nhiệt độ, lượng mưa, độ cao,… (Vu Van Manh, Thach Mai Hoang, Pham Thanh Van, 2010) 9 1.Mô hình Entropy cho sự phân bố các loài Mô hình Entropy phân bố các loài (MaxEnt) là mô hình phổ biến trong xây dựng mô hình ổ sinh thái của các loài.

MaxEnt là phương pháp được đánh giá vượt trội hơn so với các phương pháp khác (Elith et al. MaxEnt là phần mềm sử dụng phương pháp để dự đoán và mô phỏng vùng phân bố tiềm năng của các loài từ các thông tin hiện có (Phillips et al. Nguyên lý của MaxEnt là ước tính vùng phân bố có thể có của loài bằng cách tìm ra vùng phân phố của entropy cực đại.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề "Nghiên Cứu Biến Đổi Khí Hậu và Phân Bố Loài Chà Vá Chân Đen tại Việt Nam" cung cấp cái nhìn sâu sắc về tác động của biến đổi khí hậu đối với sự phân bố của loài chà vá chân đen, một loài chim quý hiếm tại Việt Nam. Nghiên cứu này không chỉ làm rõ các yếu tố môi trường ảnh hưởng đến sự sống còn của loài này mà còn đề xuất các biện pháp bảo tồn hiệu quả. Độc giả sẽ nhận được thông tin quý giá về tình trạng hiện tại của loài chà vá chân đen, cũng như những thách thức mà chúng phải đối mặt trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng gia tăng.

Để mở rộng kiến thức của bạn về các vấn đề liên quan đến bảo tồn và đa dạng sinh học, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu "Luận văn thạc sĩ nghiên cứu đề xuất các hành lang đa dạng sinh học nhằm thích ứng với biến đổi khí hậu", nơi nghiên cứu các hành lang sinh học có thể giúp bảo tồn đa dạng sinh học trong bối cảnh biến đổi khí hậu. Ngoài ra, tài liệu "Nghiên cứu bảo tồn loài mun diospyros mun a chev ex lecomte tại khu bảo tồn thiên nhiên ngọc sơn ngổ luông tỉnh hòa bình" cũng sẽ cung cấp thêm thông tin về các nỗ lực bảo tồn loài cây quý hiếm tại Việt Nam. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về "Luận văn đa dạng thành phần loài chân kép thuộc giống desmoxytes chamberlin 1923", giúp bạn hiểu rõ hơn về sự đa dạng sinh học của các loài động vật tại Việt Nam. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề bảo tồn và biến đổi khí hậu trong khu vực.