Chương 1: Tổng quan và cơ sở lý luận của nghiên cứu Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu Chương 3: Kết quả nghiên cứu Kết luận Tài liệu tham khảo Phụ lục 5 z CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nƣớc.1 Các nghiên cứu về năng lực ngôn ngữ trong mối quan hệ với năng lực nhận thức + Các nhà nghiên cứu cũng khẳng định rằng NLNN là một trong những chỉ báo quan trọng của năng lực nhận thức. Năng lực nhận thức là khả năng nhận biết đúng sự vật, sự việc với một lượng thông tin tối thiểu về các sự vật, sự việc đó. Năng lực nhận thức được đánh giá bằng tỷ lệ giữa lượng thông tin mà sự vật, sự việc cung cấp cho hệ thần kinh với toàn bộ thông tin về sự vật, sự việc đó. Tỷ lệ này càng thấp thì năng lực nhận thức càng cao.
Những yếu tố cần xác định khi đánh giá năng lực nhận thức bao gồm: khả năng ghi nhớ được thể hiện trên các mặt: tốc độ ghi nhớ, lĩnh vực ghi nhớ, hình thức ghi nhớ, lượng thông tin về sự vật, sự việc được ghi nhớ; tổng hợp và hoàn thiện thông tin về đối tượng ghi nhớ [23]. Có 8 cấp độ của năng lực nhận thức, bao gồm: 1. Biết: ghi nhớ các sự kiện, thuật ngữ và các nguyên lý dưới hình thức mà học viên đã được học. Hiểu: hiểu các tư liệu đã được học, học viên phải có khả năng diễn giải, mô tả tóm tắt thông tin thu nhận được.
Áp dụng: áp dụng được các thông tin, kiến thức vào tình huống khác với tình huống đã học. Phân tích: biết tách từ tổng thể thành bộ phận và biết rõ sự liên hệ giữa 6 z các thành phần đó đối với nhau theo cấu trúc của chúng. Tổng hợp: biết kết hợp các bộ phận thành một tổng thể mới từ tổng thể ban đầu. Đánh giá: biết so sánh, phê phán, chọn lọc, quyết định và đánh giá trên cơ sở các tiêu chí xác định.
Chuyển giao: có khả năng diễn giải và truyền thụ kiến thức đã tiếp thu được. Sáng tạo: sáng tạo ra những giá trị mới trên cơ sở các kiến thức đã tiếp thu được. Ngôn ngữ ngoài chức năng là công cụ của tư duy thì còn có ảnh hưởng quan trọng tới toàn bộ hoạt động nhận thức của con người. Ngôn ngữ tham gia vào quá trình tri giác, giúp cho các cảm giác thành phần được tổ hợp lại thành một chỉnh thể, một hình tượng trọn vẹn gắn liền với một ý nghĩa, một tên gọi cụ thể.
Ngôn ngữ làm cho các quá trình tri giác diễn ra dễ dàng, nhanh chóng và làm cho sự vật hiện tượng được tri giác trở nên khách quan, đầy đủ và rõ ràng hơn. Ngôn ngữ cũng tham gia tích cực vào quá trình ghi nhớ và gắn bó chặt chẽ với quá trình đó làm cho sự ghi nhớ, gìn giữ và nhận lại, nhớ lại của con người có chủ định, có ý nghĩa. Ngôn ngữ chính là một phương tiện để ghi nhớ, là một hình thức để lưu giữ những kết quả cần nhớ. Nhờ ngôn ngữ con người có thể chuyển hẳn những thông tin cần nhớ ra bên ngoài đầu óc con người.
Ngôn ngữ liên quan chặt chẽ tới tư duy của con người. Tư duy sử dụng ngôn ngữ làm phương tiện, công cụ để tư duy, chính điều này làm tư duy của con người khác về chất so với tư duy của con vật – con người có tư duy trừu 7 z tượng. Không có ngôn ngữ thì con người không thể tư duy trừu tượng và khái quát được. Nhờ ngôn ngữ mà chủ thể tư duy nhận thức được tình huống có vấn đề, tiến hành các thao tác tư duy và biểu đạt các kết quả của tư duy thành từ ngữ, thành câu.
Trong quá trình tưởng tượng, ngôn ngữ có vai trò to lớn trong việc hình thành và biểu đạt các hình ảnh mới. Ngôn ngữ làm cho tưởng tượng trở thành một quá trình có ý thức, được điều khiển tích cực có kết quả và chất lượng cao. Như vậy, ngôn ngữ có vai trò vô cùng quan trọng trong toàn bộ hoạt động nhận thức của con người. Không thể hiểu được những đặc trưng tâm lý diễn ra trong quá trình nhận thức nếu không hiểu được vai trò của ngôn ngữ trong sự hình thành các quá trình ấy.
Năng lực ngôn ngữ là vốn kiến thức mà cá nhân thu được cùng với sự phát triển các khái niệm ngôn ngữ và vận dụng các khái niệm ngôn ngữ để tư duy. Do vậy, năng lực ngôn ngữ chính là chỉ báo quan trọng của năng lực nhận thức. + Cấu trúc của năng lực ngôn ngữ được thể hiện qua các mặt: (a) Hiểu ngôn ngữ - nói: có khả năng hiểu, mô tả được bằng lời sự vật, hiện tượng. (b) Biểu đạt ngôn ngữ - nói: khả năng biểu đạt tâm lý trong lời nói, cách diễn đạt.
(c) Đọc và viết – ngôn ngữ viết: Khả năng trình bày một vấn đề dưới dạng văn bản. + Các dạng câu hỏi đo năng lực ngôn ngữ: Bộ câu hỏi được sử dụng để đo năng lực ngôn ngữ ở người lớn (từ 19 đến 90) gồm các tiểu trắc nghiệm 8 z phần Tư duy ngôn ngữ của bộ trắc nghiệm đánh giá năng lực trí tuệ người lớn của Wechsler – phiên bản lần thứ 4 gồm 4 phần, trong từng phần đều được sắp xếp theo trình tự từ đơn giản đến phức tạp. Cụ thể: - Tìm sự tương đồng (SI): trắc nghiệm đưa ra 2 từ mô tả những vật thể, những khái niệm chung và yêu cầu sinh viên phải mô tả xem chúng tương đồng ở điểm nào? Ví dụ: Thức ăn và xăng dầu đều cung cấp năng lượng; kẻ thù và bạn đều là những người sống bên cạnh ta và có ảnh hưởng đến cuộc sống của ta. - Từ vựng (VC): trắc nghiệm đưa ra một khái niệm và yêu cầu sinh viên định nghĩa được từ đó như Thanh bình, Hối hận, Ngoan cường…… - Kiến thức xã hội (IN): trắc nghiệm này yêu cầu sinh viên trả lời câu hỏi liên quan đến kiến thức chung về tự nhiên, xã hội như: một phút có bao nhiêu giây ?, Brazil nằm ở lục địa nào?.
- Xử lý tình huống (CQ): Trắc nghiệm yêu cầu sinh viên trả lời một số câu hỏi dựa trên sự hiểu biết của họ về các nguyên tắc chung và các tình huống xã hội.2 Các nghiên cứu về năng lực ngôn ngữ và thành tích học tập Mối tương quan giữa năng lực ngôn ngữ với thành tích học tập là một chủ đề mà các học giả đã có nhiều nghiên cứu. Các tác giả chủ yếu nghiên cứu về đặc điểm về năng lực ngôn ngữ (trí tuệ kết tinh) và thành tích học tập môn toán, đọc và ngôn ngữ viết như: Nghiên cứu về mối liên hệ giữa điểm số các năng lực được đo bằng trắc nghiệm WISC-IV gồm Tư duy ngôn ngữ, Tư duy tri giác; Trí nhớ công việc và Tốc độ xử lý với thành tích đọc và tính toán được đo bằng trắc nghiệm Wechsler Individual Achievement Test-Second (WIAT - II; Wechsler, 2002) 9 z của các tác giả Joseph J. Khách thể tham gia nghiên cứu gồm 498 trẻ được chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng trên toàn quốc. Số liệu được thu thập và xử lý bằng phép hồi quy bội và mô hình đẳng thức cấu trúc (SEM).
Kết quả cho thấy chỉ số (g) điểm tổng trí tuệ có tương quan với thành tích môn đọc và thành tích môn toán với mức tương quan lần lượt là ( 0,55 - 0,77). Chỉ số tư duy ngôn ngữ VCI có tương quan với thành tích môn đọc và thành tích môn toán với mức tương quan ở mức thấp hơn lần lượt là (0,37 - 0,17). Kết quả phân tích cho thấy sử dụng tổng điểm trí tuệ (g) sẽ dự báo thành tích đọc và tính toán tốt hơn. Nghiên cứu của các tác giả Susan G.
Assouline, Megan Foley Nicpon và Lori Dockery cho thấy có sự khác biệt trong thành tích học tập giữa hai nhóm đối tượng (nhóm tự kỷ chức năng cao và nhóm tự kỷ chức năng thấp) [50]. Nghiên cứu được tiến hành trên 59 khách thể. Kết quả cho thấy hệ số Trí nhớ công việc và Tốc độ xử lý tương quan thuận với thành tích học tập trong môn toán, đọc và ngôn ngữ viết. Nghiên cứu cũng phát hiện ra rằng những học sinh bị chuẩn đoán bị rối loại phổ tự kỷ (ASD) có điểm năng lực ngôn ngữ cao thì thành tích học tập cũng tăng và không phụ thuộc nhiều vào các biến nghiên cứu khác.
Nghiên cứu về ảnh hưởng của năng lực ngôn ngữ của trẻ em (nghiên cứu 678 trẻ bị rối loạn tăng động và 54 trẻ tự kỷ) đến thành tích học tập môn đọc và môn toán của 2 tác giả Susan Dickerson Mayes và Susan L. Calhoun chỉ ra rằng trí thông minh kết tinh (hay năng lực ngôn ngữ ) có ảnh hưởng nhiều đến thành tích học tập của học sinh và có thể được dùng để dự báo thành tích học tập của học sinh [51], [53]. Cùng với đề tài về năng lực ngôn ngữ và thành tích học tập, tác giả Trần 10 z Thành Nam đã nghiên cứu về tương quan giữa điểm số trí tuệ đo bằng WISC- IV phiên bản Việt và thành tích học tập của học sinh lớp 8 cho thấy điểm hệ số tư duy ngôn ngữ (Verbal comprehension Index) có tương quan và là một chỉ báo dự báo thành tích học tập môn Văn của học sinh khối lớp 8 [14]. Nghiên cứu này cho thấy ảnh hưởng của ngôn ngữ đến thành tích học tập của học sinh lớp 8.
Năng lực ngôn ngữ tốt thì thành tích học tập môn toán cao. Tuy nhiên, nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở việc đo NLNN của trẻ em ảnh hưởng đến thành tích học tập, chưa đo NLNN ở người lớn ảnh hưởng đến thành tích học tập. Nằm trong chuỗi nghiên cứu về năng lực ngôn ngữ và thành tích học tập là nghiên cứu gần đây về năng lực giao tiếp ngôn ngữ chủ yếu có ba mô hình: (1) mô hình Canale và Swain, (2) mô hình của Bachman và Palmer và (3) mô hình mô tả các thành phần NLNN giao tiếp trong Khung chung Châu Âu. Mô hình lí thuyết của Canale và Swain (1980, 1981) đầu tiên bao gồm ba thành phần chính: (1) lĩnh vực kiến thức, kĩ năng ngữ pháp, (2) ngôn ngữ xã hội và (3) năng lực chiến lược.
Trong một phiên bản sau mô hình này, Ca- nale (1983, 1984) đã chuyển một số yếu tố từ năng lực ngôn ngữ học xã hội thành thành phần thứ tư mà ông đặt tên là “năng lực văn bản”.