CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN Ngày nay, các thuốc có nguồn gốc tự nhiên ngày càng được sử dụng rộng rãi trong phòng ngừa và điều trị bệnh tật bởi tính an toàn, dễ tiếp cận. Theo tổ chức Y tế thế giới (WHO) đánh giá cho đến nay 80% dân số trên thế giới dựa vào nền y học cổ truyền để đáp ứng cho nhu cầu chăm sóc sức khoẻ ban đầu, trong đó chủ yếu là thuốc từ cây cỏ thực vật. Sự quan tâm về các hệ thống y học cổ truyền và đặc biệt là các loại thuốc dược thảo, thực tế là đã ngày càng gia tăng tại các nước phát triển và đang phát triển trong hơn hai thập kỷ qua.
Các thị trường dược thảo quốc gia và toàn cầu đã và đang tăng trưởng nhanh chóng, và hiện đang mang lại rất nhiều lợi nhuận kinh tế. Tuy nhiên trước nguy cơ nạn phá rừng và khai thác nguồn tài nguyên quá mức tại nhiều quốc gia trên thế giới, nhiều vị thuốc hay, thuốc quý trong dân gian có nguy cơ bị tuyệt chủng nếu như không được bảo tồn, khai thác và đầu tư nghiên cứu hợp lý. Trong đó, Dây khai (Coptosapelta flavescens Korth.) là một loài cây phân bố đặc hữu tại khu vực Đông Nam Á với nhiều giá trị sinh học, tác dụng sinh học đã được báo cáo cũng như thông qua ghi nhận trong thực tế sử dụng. Việc dùng dây Khai để tạo ra một sản phẩm có công dụng hỗ trợ sức khỏe mang tên “Cao Khai” từ lâu đã được người dân bản địa tiến hành và truyền tay nhau sử dụng.
Nhưng khi sử dụng sản phẩm Cao Khai như là một loại thuốc điều trị dựa trên kinh nghiệm cũng như cảm quan sử dụng ẩn chứa nhiều rủi ro về tính an toàn, ảnh hưởng đến sức khỏe của người bệnh. Song song đó, hiện tại vẫn chưa có chính sách kiểm soát, quản lý việc lưu hành sản phẩm Cao Khai dẫn đến việc khai thác dây khai trở nên mất kiểm soát. Về lâu dài nếu không được bảo tồn sẽ có khả năng làm đứt đoạn nguồn nguyên liệu quý giá này trong tự nhiên. Do đó, rất cần thiết có những nghiên cứu chuyên sâu về sản phẩm Cao Khai, để từ đó có thể một mặt khẳng định giá trị của sản phẩm này, mặt khác là cơ sở để đề xuất những quy trình kiểm soát, chuẩn hóa việc sản xuất sản phẩm này từ khâu khai thác đến khâu sản xuất cũng như có kế hoạch gây giống, bảo tồn loại dược liệu quý giá này trong tương lai.
TỔNG QUAN VỀ NGUYÊN LIỆU Tên khoa học: Coptosapelta flavescens Korth., họ Cà phê (Rubiaceae) Tên đồng danh: Coptosapelta tomentosa (Blume) Vahl. ex Heyne var.) Phamh, Coptosapelta flavescens var. dongnaiensis Pierre ex Pit. Tên Việt Nam: Dây khai, Vàng hoan, Dây cổ rùa, Dây họng trâu [5, 6].
Vị trí trong bảng phân loại thực vật: Giới: Thực vật (Plante) Ngành: Ngọc lan (Magnoliophyta) Lớp: Hai lá mầm (Magnoliopsida) Bộ: Long đởm (Gentianales) Họ: Cà phê (Rubiaceae) Chi: Coptosapelta Loài: Coptosapelta flavescens Korth. Đặc điểm thực vật học: Dây khai có dạng dây leo gỗ, dài 5-7m hoặc hơn. Cành tròn màu nâu sẫm, lúc non có lông, sau nhẵn. Lá mọc đối, có cuống rất ngắn dài 3-12mm, phiến lá mỏng, hình bầu dục hoặc hình trứng, dài 4,5-11cm, rộng 2,5-6cm, gốc gần tròn, đầu có mũi nhọn ngắn, mặt trên màu xanh lục, mặt dưới rất nhạt, có lông nhỏ ở các gân.
Lá kèm hình tam giác hẹp, dài khoảng 3-6mm, rụng sớm. Cụm hoa là một xim ở ngọn hay kẽ lá đầu cành, dài 6-8cm, có lông mang nhiều hoa màu trắng đến vàng nhạt, mùi thơm hắc. Nụ hoa hình trụ, dài 14-18mm. Phần dưới đài hình ống, các thùy đài có hình tròn hay tam giác, dài khoảng 1mm; có ống tràng ngắn hơn các thùy tràng, các thùy xòe ra rộng và hơi cong.
Nhị 5, đính ở họng tràng. Bầu 2 ô, cao 2,5mm, vòi nhụy dài 7-9mm, thò ra ngoài ống tràng. Quả nang hình cầu có núm nhọn ở đầu, đường kính 6-8mm, có 2 ô, khi chín nứt thành 2-3 mảnh, chứa nhiều hạt nhỏ, dẹt, có cánh. Mùa 2 n hoa tháng 9-12, mùa quả vào tháng 1-4.
Rễ chặt ra có mùi khai nồng, rất khó chịu nên có người còn gọi là cây Rễ khai [5]. Dây khai (Coptosapelta tomentosa (Blume) Valeton ex K. Heyne) Hiện nay, trên thế giới, Chi Coptosapelta gồm có 16 loài chủ yếu phân bố ở các nước Châu Á như Trung Quốc, Indonesia, Nhật Bản, Lào, Malaysia, Myanma, Phillipin, Thái Lan và Việt Nam. Dây khai (Coptosapelta tomentosa (Blume) Valeton ex K.
Heyne) là cây thuốc quý được sử dụng từ lâu đời bởi nhiều dân tộc trên thế giới. Ở Malaysia, rễ Dây khai được dùng như một loại kem dưỡng da hoặc thuốc đắp cho trẻ nhỏ. Thuốc sắc từ rễ có tác dụng điều trị nhiễm trùng giun sán, đau bụng, sốt và viêm loét mũi [6-7]. Ở Sumatra, rễ Dây khai được luộc chín, nghiền thành bột, chà xát khắp cơ thể sẽ giúp chống lại sốt và thấp khớp [8].
Tuy nhiên, do sự phân bố đặc hữu, còn khá ít nghiên cứu về loài cây này. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU THUỘC LĨNH VỰC CỦA ĐỀ TÀI 1. Jansen và đồng sự đã công bố nghiên cứu đánh giá khả năng tích lũy nhôm được khảo sát trên 251 mẫu thực vật thuộc một số chi của họ Cà phê (Rubiaceae). Kết quả cho thấy nhôm được tích lũy nhiều trong lá của một số loài thuộc chi Coptosapelta [9].
Năm 2014, trong nghiên cứu sàng lọc in vitro trên 21 mẫu dược liệu dùng trong y học dân tộc Thái Lan để chữa tiêu chảy, kiết lị, dịch chiết aceton của C. flavescens có hoạt tính mạnh nhất trên cả 2 mô hình thử nghiệm với E. Từ cao aceton này, nhóm nghiên cứu ở Thái Lan 3 n đã phân lập được 1 dẫn chất anthraquinon: 1-hydroxy-2- hydroxymethylanthraquinon. Ở nồng độ thử nghiệm 20 µg/ml, chất này có khả năng ức chế sự phát triển E.
histolistica tương đương Metroninazol (2,5 µg/ml) và đặc biệt với cùng nồng độ 2,5 µg/ml, 1-hydroxy-2- hydroxymethylanthraquinon còn cho khả năng ức chế mạnh hơn Metronidazol trên G. instestinalis sau khi ủ 12 giờ [10]. Một năm sau, nhóm nghiên cứu này cũng đã tìm ra cơ chế tác động của 1-hydroxy-2-hydroxymethylanthraquinon trên G. intestinalis khi ở cùng giá trị IC50 = 0,42 µg/ml, chất này gây những biến đổi trên màng tế bào và cảm ứng apoptosis chỉ sau 6 giờ trong khi trên lô thử với Metronidazol vẫn chưa có thay đổi đáng kể [11].
Năm 2014, nhóm nghiên cứu của Wipapan Kongyen và các cộng sự ở Thái Lan đã phân lập được 4 dẫn chất Anthraquinon và 1 dẫn chất Naphtoquinon từ dịch chiết aceton rễ C. Dựa các các phương pháp phổ, cấu trúc hóa học của các chất được xác định lần lượt là 1,4-dimethoxy- 2-methylanthraquinon (4), 2-amino-3-methoxycarbonyl-1,4-naphtho-quinon (5), 1-hydroxy-2-hydroxymethyl-anthraquinon (6), 1-hydroxy-2- methoxycarbonyl-anthraquinon (7) và 2-methoxycarbonyl-anthraquinon (8). Bên cạnh đó, các chất này cũng được tiến thành thử các hoạt tính sinh học bao gồm: kháng khuẩn (với Staphylococcus aureus và Staphylococcus aureus kháng methicillin), chữa kiết lỵ và độc tế bào (trên dòng tế bào ung thư thận – Vero cell). Kết quả cho thấy, các dẫn chất anthraquinon, bao gồm: (5), (6), (7) đều cho tác động ở mức trung bình, đặc biệt (6) có hoạt tính ức chế Giardia intestinalis với giá trị MIC 2,5 µg/ml tương đương với chứng dương Metronidazol.
Điều này khá hợp lý khi trong dân gian, loài cây này được dùng để chữa kiết lỵ ở trẻ em [12]. Các hợp chất phân lập từ rễ C. flavescens Năm 2017, dịch chiết Methanol của thân C. flavescens còn được chứng minh là có khả năng hạ huyết áp.
Kết quả này được công bố vào năm 2017 của một nhóm nghiên cứu thuộc Indonesia [13]. Theo nghiên cứu này, dịch chiết methanol của thân C. flavescens có tác dụng làm dãn mạch trên mô hình gây co mạch với phenylephedrin ở chuột. Nghiên cứu còn cho rằng tác dụng này có thể gây ra bởi các polyphenol hoặc saponin có trong thân C.
flavescens do kích hoạt sự phóng thích NO nội sinh gây ra sự dãn mạch. Năm 2018, khả năng kháng viêm in vitro và in vivo của dịch chiết methanol rễ C. flavescens được chứng minh qua nghiên cứu ở Indonesia. Cụ thể, kết quả nghiên cứu in vitro cho thấy EC50 của chiết xuất methanol là 1,905 ± 0,119 mg/ml, thấp hơn so với indomethacin (10,288 ± 0,212 mg/ml) trong thử nghiệm kháng viêm trên màng hồng cầu.
Còn trong mô hình gây phù chân chuột bằng carragenan, liều thử 1200 mg/kg cao methanol cho khả năng kháng viêm tương đương 20 mg/kg Indomethacin [14]. Năm 2018, nhằm cung cấp thêm thông tin sâu hơn về các hợp chất có hoạt tính của Dây khai, Fitriyana và công sự đã tiến hành sử dụng rễ cây được chiết bằng các dung môi với độ phân cực tăng dần là hexan, ethyl acetat và 5 n methanol. Dịch chiết sau đó được phân tích bằng phương pháp sắc ký khí khối phổ (GC-MS). Phân tích GC-MS của chiết xuất rễ trong n-hexane cho thấy có 56 hợp chất, với hợp chất chính là axit decanoic, metyl este (10,13%) và 1H- pyrazole, 3- (4-chlorophenyl) -4, 5-dihydro-1-phenyl (11,25%).
Chiết xuất trong phần ethyl acetate thu được 81 hợp chất. Thành phần lớn nhất là axit benzoic (22,40%), trong khi đó trong methanol có 38 hợp chất, trong đó thành phần chính là 2-furancarboxaldehyd, 5- (hydroxyl methyl) (30,46%) [15]. Năm 2018, dịch chiết methanol C. flavescens có khả năng kháng viêm cả in vitro và in vivo.
Một loạt nghiên cứu của Arnida từ năm 2017 đến đầu năm 2019 tại Indonesia về hoạt tính ức chế trùng hợp Hem, cho thấy tiềm năng của lá Dây khai trong việc điều trị bệnh sốt rét. Dịch chiết lá Dây khai trong dung môi hexan và ethanol có giá trị IC50 tương tự thuốc trị sốt rét chloroquine diphosphate [16-18]. Trong nước Ở Việt Nam, Dây khai còn có nhiều tên gọi khác như: Dây cổ rùa, Dây họng trâu, Dóc, Dây vàng hoan. Dây khai là loại cây nhiệt đới điển hình, ở Việt Nam nó phân bố chủ yếu ở phía Nam từ Tây Ninh trở vào đến các đảo Phú Quốc, Côn Đảo [5].
Dây khai là cây ưa sáng, thuờng mọc ở rừng nguyên sinh xanh ẩm quanh năm hay rừng mới thứ sinh, đất đai còn màu mỡ. Ngoài ra ở một số vùng có rừng như: Nghệ An, Trà My, Phước Sơn (Quảng Nam), Vĩnh Thạnh (Bình Định), An Khê (Gia Lai), Đắc Nông, Đắc Lắc … thường cũng gặp nhiều Dây khai. Dây khai ra hoa quả nhiều hàng năm. Cây mọc ở ven rừng, gần bờ sông suối có nhiều ánh sáng, có hoa quả nhiều hơn dưới tán rừng.
Nguồn trữ lượng Dây khai ở các tỉnh phía Nam khá dồi dào, ước tính có thể tới hàng ngàn tấn [5]. Bộ phận dùng là rễ Khai, thu hái quanh năm, dùng tươi hay phơi, sấy khô. Dược liệu có mặt ngoài màu vàng nhạt, mùi khai hắc đặc biệt, vị đắng, hơi ngọt [5]. Ở Việt Nam, Dây khai là dược liệu có tác dụng lợi tiểu và giải độc.