Đặt vấn đề Việt Nam được coi là một trong những trung tâm ĐDSH của vùng Đông Nam Á. Từ kết quả nghiên cứu về khoa học cơ bản trên lãnh thổ Việt Nam, nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước đều nhận định rằng Việt Nam là một trong 10 quốc gia ở Châu Á và một trong 16 quốc gia trên thế giới có tính đa ĐDSH cao do có sự kết hợp của nhiều yếu tố. Tuy nhiên, tài nguyên rừng Việt Nam đã và đang bị suy thoái nghiêm trọng do nhiều các nguyên nhân khác nhau như nhu cầu lâm sản ngày càng tăng, việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất, khai thác quá mức, không đúng kế hoạch, chiến tranh,… Theo số liệu mà Maurand P. công bố trong công trình “Lâm nghiệp Đông Dương” thì đến năm 1943 Việt Nam còn khoảng 14,3 triệu ha rừng tự nhiên với độ che phủ là 43,7% diện tích lãnh thổ.
Quá trình mất rừng xảy ra liên tục từ năm 1943 đến đầu những năm 1990, đặc biệt từ năm 1976 -1990 diện tích rừng tự nhiên giảm mạnh, chỉ trong 14 năm diện tích rừng giảm đi 2,7 triệu ha, bình quân mỗi năm mất gần 190 ngàn ha (1,7%/năm) và diện tích rừng giảm xuống mức thấp nhất là 9,2 triệu ha với độ che phủ 27,8% vào năm 1990 (Trần Văn Con, 2001). Việc mất rừng, độ che phủ giảm, đất đai bị suy thoái do xói mòn, rửa trôi, sông hồ bị bồi lấp, môi trường bị thay đổi, hạn hán lũ lụt gia tăng, ảnh hưởng lớn đến mọi mặt đời sống của nhiều vùng dân cư. Mất rừng còn đồng nghĩa với sự mất đi tính đa dạng về nguồn gen động thực vật. Thông Pà Cò (Pinus kwangtungensis Chun ec Tsiang) là loài thực vật cổ, đặc hữu của Miền Bắc Việt Nam và nam Trung Hoa, được phát hiện lần đầu tiên ở Việt Nam vào những năm 1980 tại Khu bảo tồn thiên nhiên Hang Kia - Pà Cò tỉnh Hòa Bình.
Loài Thông năm lá này có phân bố tự nhiên rải rác tại các tỉnh Hòa Bình, Sơn La, Thanh Hóa, Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Kạn (Nguyễn Tiến Hiệp et al, 2004) Đây là loài cây lớn được dùng làm nhà và các đồ gia dụng tại địa phương, ngoài ra còn có tiềm năng làm cây cảnh do tán lá đẹp (Nguyễn Đức Tố Lưu, Thomas P. 2004) và làm thuốc (Nguyễn Văn Tập et a;, 2011). e 2 Việt Nam được công nhận là một trong những điểm nóng về đa dạng sinh học. Nhiều hệ sinh thái và môi trường sống bị thu hẹp diện tích và nhiều taxon bậc loài và dưới loài đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng trong tương lai gần.
Nhận thấy tầm quan trọng phải bảo vệ và phát triển rừng, Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn đã thành lập các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên mục tiêu là đảm bảo các giá trị cảnh quan được gìn giữ, đa dạng sinh học sẽ được bảo tồn. Hiện nay cả nước có khoảng 128 khu bảo tồn nhằm gìn giữ nguồn gen của địa phương, là cơ sở quyết định cho sự phát triển hệ sinh thái nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp đa dạng và bền vững. Cũng như các khu bảo tồn khác, khu bảo tồn thiên nhiên Phia Oắc – Phia Đén là nơi lưu giữ những nguồn gen và các loài động thực vật có giá trị, đặc biệt là một số loài thực vật quý hiếm như: Nghiến, Sến mật, Thông Pà Cò, Giảo cổ lam. Tuy nhiên việc nghiên cứu về các loài thực vật này còn rất hạn chế đặc biệt là loài cây Thông Pà Cò.
Để có thể bảo tồn và phát triển loài cây Thông Pà Cò này tôi tiến hành thực hiện khóa luận tốt nghiệp nhằm: “Nghiên cứu đặc điểm sinh học của cây Thông Pà Cò (Pinus kwangtungensis Chun ec Tsiang) tại khu bảo tồn thiên nhiên Phia Oắc-Phia Đén huyện Nguyên Bình tỉnh Cao Bằng ”. Mục tiêu nghiên cứu Đánh giá được sự hiểu biết của người dân địa phương về loài Thông Pà Cò trong khu vực nghiên cứu. Xác định được một số đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của loài Thông Pà Cò, từ đó đề xuất một số biện pháp để bảo tồn và phát triển loài. Ý nghĩa của đề tài 1.
Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu Thực hiện đề tài khoa học này nhằm củng cố phương pháp nghiên cứu khoa học cho sinh viên, giúp sinh viên vận dụng kiến thức đã được học trong trường vào công tác nghiên cứu khoa học. Ý nghĩa trong thực tiễn Việc nghiên cứu giúp tôi củng cố lại và bổ sung thêm kiến thức đã học. Qua đó giúp tôi làm quen với việc nghiên cứu khoa học, viết và trình bày báo cáo khoa học. Việc điều tra, đánh giá tình hình phân bố và tái sinh của loài nghiên cứu nhằm đánh giá khả năng sinh trưởng và phát triển của loài này trong thời gian tới.
Đưa ra một số giải pháp nhằm bảo tồn các loài thực vật quý hiếm nói chung và loài cây Thông Pà Cò nói riêng. Đây là tài liệu tham khảo cho mọi người có nhu cầu tìm hiểu về các vấn đề nêu trong đề tài. e 4 Phần 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở khoa học của nghiên cứu Hiện nay trên thế giới cũng như Việt Nam, đa dạng sinh học đang ngày càng suy giảm làm cho số lượng các loài động thực vật giảm từng ngày từng giờ, đặc biệt là các loài động, thực vật quý hiếm.
Có những loài thực vật rất phong phú như họ Thông, nhưng hiện nay một số loài trong họ vẫn có nguy cơ bị tuyệt chủng. Họ Thông là một trong số những họ thực vật đa dạng nhất của Việt Nam có khoảng 6-8 họ với khoảng 65-70 chi và 600-650 loài, nhưng hiện nay số lượng đó ngày càng suy giảm do vậy cần nâng cao công tác bảo tồn. Dựa trên các tiêu chuẩn đánh giá tình trạng các loài của IUCN, chính phủ Việt Nam cũng công bố trong Sách đỏ Việt Nam để hướng dẫn, thúc đẩy công tác bảo vệ tài nguyên sinh vật thiên nhiên. Đây cũng là tài liệu khoa học được sử dụng vào việc soạn thảo và ban hành các qui định, luật pháp của Nhà nước về bảo vệ tài nguyên sinh vật thiên nhiên, tính đa dạng sinh học và môi trường sinh thái.
Các loài được xếp vào 9 bậc theo các tiêu chí về mức độ đe dọa tuyệt chủng như tốc độ suy thoái (rate of decline), kích thước quần thể (population size), phạm vi phân bố (area of geographic distribution), và mức độ phân tách quần thể và khu phân bố (degree of population and distribution fragmentation). Nhóm tuyệt chủng + Tuyệt chủng (EX) + Tuyệt chủng trong tự nhiên (EW) Nhóm bị đe dọa + Cực kì nguy cấp (CR) + Nguy cấp (EN) + Sắp nguy cấp (VU) + Nhóm ít nguy cấp LR - Phụ thuộc bảo tồn (LR/cd) - Sắp bị đe dọa LR/nt e 5 - Ít lo ngại: Least Concern (LR/lc) + Thiếu dữ liệu: Data Deficient + Không được đánh giá: Not Evaluated Để bảo vệ và phát triển các loài Động thực vật quý hiếm Chính phủ đã ban hành (Nghị định số 32 /2006/NĐ-CP) [13]. Nghị định quy định các loài động, thực vật quý, hiếm gồm hai nhóm chính: + IA,B Thực vật rừng, động vật rừng nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại (IA đối với thực vật rừng). + IIA,B Thực vật rừng, động vật rừng hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại (IIA đối với thực vật rừng).
Dựa vào phân cấp bảo tồn loài và đa dạng sinh học tại khu bảo tồn Thiên Nhiên Phia Oắc-Phia Đén, huyện Nguyên Bình, Tỉnh Cao Bằng có rất nhiều loài động thực vật được xếp vào cấp bảo tồn CR, EN và VU cần được bảo tồn nhằm gìn giữ nguồn gen quý giá cho thành phần đa dạng sinh học ở Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung. Một trong những loài thực vật cần được bảo tồn gấp đó chính là loài Thông Pà Cò tại khu bảo tồn, đây là cơ sở khoa học đầu tiên giúp tôi tiến đến nghiên cứu và thực hiện đề tài. Đối với bất kì công tác bảo tồn một loài động thực vật nào đó thì việc đi tìm hiểu kĩ tình hình phân bố, hiện trạng nơi phân bố là điều cấp thiết nhất. Ở khu bảo tồn Thiên nhiên Phia Oắc- Phia Đén tỉnh Cao Bằng, tôi đi tìm hiểu tình hình phân bố của loài Thông Pà Cò, thống kê số lượng, tình hình sinh trưởng và đặc điểm sinh học của chúng tại địa bàn nghiên cứu.
Đây là cơ sở thứ hai để tôi thực hiện nghiên cứu của mình. Nhưng do giới hạn của đề tài và năng lực của bản thân còn hạn chế nên tôi chưa thể phân tích đánh giá một cách cụ thể mà chỉ tiến hành “tìm hiểu” và đánh giá khái quát để đưa ra những biện pháp bảo tồn và phát triển loài. Tình hình nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam 2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới Ngành Thông (danh pháp khoa học: Pinophyta) nhiều tài liệu tiếng Việt cũ còn gọi là ngành Hạt trần (Gymnospermae), gồm các loài cây thân gỗ e 6 lớn hoặc nhỡ, ít khi là cây bụi hoặc dây leo thân gỗ.
Lá hình vảy, hình kim, hình dải, ít khi hình quạt, hình trái xoan hoặc hình lông chim. Cơ quan sinh sản thường đơn tính, có cấu tạo nón khác với cấu tạo hoa, gồm các lá bào tử xếp xoắn ốc hoặc xếp vòng trên một trục ngắn có dạng nón. Thụ phấn nhờ gió, ít khi nhờ côn trùng. Lá noãn mở không bao hạt, mang một đến nhiều lá noãn ở nách hoặc mép.
Hạt có phôi thẳng, mang một đến nhiều lá mầm. + Nguồn gốc tiến hóa Thực vật ngành Thông phát sinh từ kỷ Devon trong đại Cổ Sinh, phát triển mạnh ở kỷ Than đá, kỷ Permi và giảm dần từ kỷ Tam điệp trong đại Trung Sinh. Nhiều loài hiện đã tuyệt diệt hoặc thu hẹp phạm vi phân bố. Người ta tìm thấy nhiều mẫu hóa thạch của thực vật ngành thông có niên đại các bon từ khoảng 300 triệu năm trở lại đây.
Những loài còn xuất hiện ngày này cũng có hóa thạch tìm được có niên đại tới 60-120 triệu năm và người ta gọi chúng là những loài thực vật cổ. Gỗ tương đối mềm, chỉ có quản bào chưa có mạch gỗ và sợi gỗ. Cây gỗ to, cao đến hơn 25 m, đường kính thân 50-70 cm, thường xanh, có chồi đông với các vảy chồi màu nâu nhạt. Lá mọc 5 chiếc một ở đầu cành ngắn và các cành ngắn này lại mọc chụm trên đầu cành dài.
Lá hơi cong, dài 4 - 7 cm, rộng 1 - 1,2 mm, mặt cắt ngang hình 3 cạnh, mép có răng cưa.