đặt vấn đề đổi mới toàn diện, Đảng ta rõ ràng đã ý thức sâu sắc về những bất ổn, bất cập của cơ chế cũ. Thái độ dũng cảm nhìn thẳng vào sự thật, khuyến khích nói rõ sự thật đã tạo điểm tựa tinh thần vững chắc cho văn học mở rộng phạm vi chiếm lĩnh hiện thực. Văn học giai đoạn này nhƣ đƣợc mở rộng tối đa phạm vi phản ánh hiện thực. Ngay cả những vấn đề tiêu cực trong xã hội vốn bị giấu kín trong văn học, nay đƣợc đem ra “ánh sáng”, đƣợc soi chiếu dƣới nhiều góc độ khác nhau và phản ánh trong văn học với nhiều hình thức khác nhau.
Nếu trƣớc đây văn học cách mạng thiên về cảm hứng ngợi ca, biểu dƣơng, khẳng định những cái đẹp, cái lý tƣởng của con ngƣời và cuộc sống thì bây giờ, nhƣ để cân bằng 22 lại, văn học khám phá mặt trái, mặt tiêu cực của xã hội đƣơng thời thông qua tiếng cƣời trào phúng. Mặc dù khó tìm đƣợc những cây bút chuyên về trào phúng đạt đến mức độ bậc thầy nhƣ Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng nhƣ trƣớc đây, nhƣng có thể thấy từ sau 1975 đến nay, nhiều nhà văn đã lấy tiếng cƣời là phƣơng tiện để thể hiện cách nhìn, cách cảm của mình trƣớc hiện thực cuộc sống. Sự nở rộ của tiếng cƣời cùng cảm hứng trào lộng hiện diện trong nhiều tác phẩm thuộc nhiều thể loại, đặc biệt là trong văn xuôi của nhiều tác giả, từ thế hệ các nhà văn lão thành đã đi qua chiến tranh nhƣ Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng, Nguyễn Khải… đến những cây bút xuất hiện từ sau đổi mới nhƣ: Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Hồ Anh Thái… Nó đã chi phối đặc điểm bút pháp, ngôn ngữ, giọng điệu… của các tác giả nói trên. Cảm hứng trào lộng đã cho thấy khuynh hƣớng đổi mới quan trọng trong cách nhìn và quan niệm về con ngƣời và cuộc sống, dẫn tới những cách tân trong hình thức của văn xuôi nghệ thuật.
Từ sau 1975, nằm trong xu hƣớng đổi mới văn học nghệ thuật, những nhà văn lấy cảm hứng trào lộng để phản ánh hiện thực cũng tìm tòi sáng tạo về mặt hình thức nghệ thuật để tạo nên tiếng cƣời trào phúng khi nhẹ nhàng, hóm hỉnh, khi châm biếm, sâu cay. Về xây dựng nhân vật, nhiều nhà văn không chú trọng xây dựng nhân vật điển hình, càng không muốn xây dựng kiểu nhân vật lí tƣởng, mẫu mực. Nhân vật trong những tác phẩm mang đậm tính trào phúng chỉ là những con ngƣời bình thƣờng, trong đời sống bình thƣờng với tất cả bản chất ngƣời tự nhiên của nó. Các nhà văn cũng không chú trọng xây dựng cốt truyện trong đó chứa đựng những xung đột gay gắt.
Có thể nhận thấy trong nhiều tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp, Tạ Duy Anh, Hồ Anh Thái… không phải cốt truyện nào cũng có những tình huống gay cấn với những xung đột quyết liệt mà là những câu chuyện về những cái bình thƣờng, nhỏ nhặt, là các trạng thái tâm linh, là những xung đột bên trong của cá nhân. Tất cả hợp thành yếu tố thúc đẩy và 23 hình thành cốt truyện. Hiện thực đời sống cũng không diễn ra theo trục tuyến tính truyền thống mà đƣợc tháo gỡ, cấu trúc thành nhiều dạng thức mới: theo hành trình số phận nhân vật đan xen giữa quá khứ - hiện tại, theo lối xây dựng các biểu tƣợng gắn với sự thay đổi trong quan niệm nghệ thuật và sự biến đổi cấu trúc thể loại; là sự xuất hiện của nhiều thủ pháp nghệ thuật mới mẻ và hiện đại: thủ pháp cắt dán, lồng ghép, đồng hiện, liên văn bản… Tóm lại, cảm hứng trào lộng trong văn xuôi Việt Nam từ sau 1975 gắn bó mật thiết với quan niệm đa chiều về cuộc sống và con ngƣời. Trong số những nhà văn hiện đại, Hồ Anh Thái đƣợc coi là một trong những hiện tƣợng nổi bật khi đƣa yếu tố trào lộng vào tác phẩm.
Đối với riêng Hồ Anh Thái, đây cũng là một bƣớc thay đổi trong phong cách nghệ thuật của nhà văn. Vậy điều gì đã khiến nhà văn tìm đến bút pháp trào lộng để phản ánh hiện thực cuộc sống? 1. SỰ LỰA CHỌN BÚT PHÁP TRÀO PHÚNG CỦA HỒ ANH THÁI Hồ Anh Thái cho rằng: “Một cách tái hiện trào lộng có lẽ phù hợp với cái thế giới hỗn tạp, bất ổn, quay cuồng và mất phƣơng hƣớng hiện nay. Nếu thể hiện nó bằng phƣơng pháp hiện thực nghiêm ngặt, có lẽ giống nhƣ đối diện một cơn đau giải phẫu mà không có thuốc giảm đau.
Yếu tố trào phúng là liều thuốc giảm đau ấy - chấp nhận mổ xẻ để giảm đƣợc đau đớn. Tiếng cƣời không phải là sự hoà giải với đời sống để rồi quên đi, mà làm cho ngƣời ta ý thức rõ hơn về đời sống ấy, từ đó quyết tâm cải thiện nó. Thêm nữa, khi chọn giọng điệu hài hƣớc ngƣời viết thấy mình đƣợc tự do hơn, phóng khoáng hơn, trong việc chọn điểm nhìn, trong cách nhìn và thực hiện công việc sáng tạo”. Trên đây là câu trả lời của Hồ Anh Thái đối với tác giả luận văn về việc lựa chọn bút pháp trào phúng hay việc sử dụng các yếu tố trào lộng ngày càng sắc nét trong nhiều tác phẩm gần đây.
Nhƣ vậy có thể thấy, Hồ Anh Thái gia tăng các yếu tố trào phúng trong nhiều truyện ngắn và ngay cả tiểu thuyết trƣớc hết 24 là bởi hiện thực cuộc sống mà nhà văn gọi là “cái thế giới hỗn tạp, bất ổn, quay cuồng và mất phƣơng hƣớng”. Xã hội Việt Nam những năm cuối thế kỉ XX đầu thế kỉ XXI có những thay đổi với tốc độ chóng mặt. Cái cũ trong cơ chế bao cấp chƣa hẳn đã mất hết đi, trong khi cái mới ồ ạt xuất hiện, làm nảy sinh những cái kệch cỡm, lố bịch. Thời đại kinh tế thị trƣờng một mặt thúc đẩy sự phát triển của đất nƣớc, mặt khác lại bộc lộ những mặt trái của nó, tác động đến các mối quan hệ của con ngƣời.
Tâm thế sống của con ngƣời cũng thay đổi vì chạy theo tiền bạc, danh vọng, tranh đua nhau để đạt đƣợc mục đích bằng mọi thủ đoạn. Đất nƣớc thời kỳ mở cửa hội nhập quốc tế, mục đích là để theo kịp thời đại. Nhƣng chính sự mở cửa, hội nhập ấy đang từng ngày từng giờ tác động đến đời sống, lối sống của nhiều ngƣời trong xã hội. Có điều kiện tiếp xúc với nhiều nền văn hoá khác nhau, những luồng tƣ tƣởng khác nhau, dễ khiến ngƣời ta mất phƣơng hƣớng nếu không có điểm tựa tinh thần vững chắc.
Bằng sự nhạy cảm và sắc bén, Hồ Anh Thái nhanh chóng phát hiện những điều phức tạp và bất ổn của xã hội đƣơng thời, nơi mà mọi giá trị đạo đức, tƣ tƣởng văn hóa đang có nguy cơ biến dạng, đảo lộn vì đồng tiền và cuộc sống hiện đại. Với tƣ cách là một nhà văn trƣởng thành trong thời kỳ đổi mới, Hồ Anh Thái cũng nhận thấy nếu phản ánh bằng một hiện thực nghiêm ngặt, hay là chủ nghĩa hiện thực theo kiểu truyền thống sẽ giống nhƣ là một ca phẫu thuật mà không sử dụng thuốc giảm đau. Có thể nhà văn, với phƣơng pháp ấy, sẽ mổ xẻ, phơi bày những cái ung nhọt của xã hội, nhƣng biết đâu sẽ gây cảm giác đau đớn, nặng nề cho ngƣời đọc. Hồ Anh Thái đã tìm đến bút pháp trào phúng để phản ánh hiện thực cuộc sống, giống nhƣ tìm một liều thuốc giảm đau cho một cuộc phẫu thuật.
Ở đây, rõ ràng là nhà văn ý thức đƣợc sức mạnh của nghệ thuật trào phúng trong việc tìm và đƣa ra ánh sáng những cái phức tạp, bất ổn và quay cuồng của cuộc sống. Các yếu tố trào lộng là những phƣơng thuốc thần kỳ làm nổi rõ những cái hài hƣớc, lệch chuẩn của 25 con ngƣời, các hiện tƣợng, lĩnh vực khác nhau trong xã hội. Về phía ngƣời đọc, những yếu tố trào lộng tạo ra sự nhẹ nhàng, vui vẻ mà cũng không kém phần sâu sắc trong việc tiếp nhận tác phẩm. Bút pháp trào phúng tạo hiệu quả thẩm mỹ là cái hài, là điều mà bút pháp truyền thống khó có thể tạo đƣợc.
Và với Hồ Anh Thái, tiếng cƣời ấy không đơn giản chỉ là sự vui vẻ nhất thời, càng không phải là sự hoà giải với cuộc sống để rồi chìm trong quên lãng, mà nó phải có sức mạnh làm cho mọi ngƣời thấy rõ đƣợc bản chất hiện thực, để thay đổi nó, làm cho nó tốt đẹp hơn. Về phía ngƣời cầm bút, Hồ Anh Thái tự nhận thấy khi chọn giọng điệu hài hƣớc, nhà văn thấy mình tự do và phóng khoáng hơn trong việc nhìn nhận, đánh giá hiện thực và mở ra những cơ hội mới trong sáng tạo nghệ thuật. Việc tìm đến bút pháp nghệ thuật trào phúng để phản ánh cuộc sống đƣơng thời còn xuất phát từ quan niệm nghệ thuật của Hồ Anh Thái. Ông cho rằng, nhà văn phải là ngƣời “luôn có ý thức tìm tòi làm mới tƣ tƣởng của mình và phải phấn đấu đứng trong hàng ngũ những nhà văn cấp tiến nhất”.
Hồ Anh Thái cũng cho rằng phong cách không phải là cái vỏ ngoài bất biến và ngoan cố. Nhà văn nào coi phong cách là cái gì cố định nghĩa là đã tự monotone hoá, phiến diện hoá, một chiều hoá chính mình. Hồ Anh Thái từng nói: “Tôi rất sợ một nền văn nghệ mà các nghệ sĩ luôn tự lấy làm hài lòng với phƣơng pháp mình lựa chọn. Ngƣời ta cứ khăng khăng bám riết lấy một phƣơng pháp, tự an ủi rằng mình đã định hình một phong cách.
Quan niệm về phong cách nhƣ vậy thật dễ cho chính nghệ sĩ, dễ cho ngƣời thƣởng thức nào quen nghĩ rằng mỗi nghệ sĩ chỉ có một nét đặc trƣng, dễ cho cả những nhà phê bình mỗi khi muốn gọi tên một phong các ứng với nghệ sĩ nào đó” [50, 227]. Trong một lần trả lời phỏng vấn khác, Hồ Anh Thái cũng khẳng định: “Tôi tránh lặp lại ngƣời khác và lặp lại chính mình. Tôi cho rằng ngƣời có phong cách chính là không khƣ khƣ bám lấy một phong 26 cách cố định, bất biến. Có phong cách tức là phải có giọng điệu, dù anh có đổi giọng đến thế nào thì vẫn là trên cái nền tảng văn hoá của anh, trên tầm nhìn của vào thế giới và nhân sinh mà thôi.
Cho rằng thay đổi giọng điệu sẽ làm loãng phong cách của chính mình là một cách hiểu đơn giản và làm cho ngƣời sáng tạo lƣời biếng, ngại làm với chính mình” [48, 242].