phần mở đầu, kết luận, mục lục, tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được kết cấu gồm 3 chương: Chƣơng 1. Khái quát về huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định và nghề thủ công truyền thống trước năm 1986 Chƣơng 2. Hoạt động của nghề thủ công truyền thống ở huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định từ năm 1986 đến năm 2018 Chƣơng 3. Nhận xét về nghề thủ công truyền thống ở huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định từ năm 1986 đến năm 2018 e 7 Chƣơng 1.
KHÁI QUÁT VỀ NGHỀ THỦ CÔNG TRUYỀN THỐNG Ở HUYỆN HOÀI ÂN TRƢỚC NĂM 1986 1. Khái quát về huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định 1. Điều kiện tự nhiên Hoài Ân là huyện trung du có diện tích rộng vào hàng thứ ba trong 11 đơn vị hành chính của tỉnh Bình Định (sau 2 huyện Vân Canh, Vĩnh Thạnh) với diện tích tự nhiên 777,8 km2, chiếm 12% diện tích tự nhiên toàn tỉnh. Phía Bắc giáp huyện Hoài Nhơn, phía Nam giáp huyện Vĩnh Thạnh, phía Đông giáp huyện Phù Mỹ và huyện Phù Cát, phía Tây giáp huyện An Lão.
Nằm ở phía Bắc của tỉnh Bình Định, huyện Hoài Ân là vùng đất nối liền dải đồng bằng ven biển phía đông với đại ngàn Trường Sơn hùng vĩ ở phía Tây. Hoài Ân là huyện trung du có diện tích rộng vào hàng thứ ba trong 11 đơn vị hành chính của tỉnh Bình Định. Huyện Hoài Ân là vùng bán sơn địa nên địa hình đa dạng, đồi núi xen kẽ với đồng bằng, thung lũng. Trên địa bàn huyện có 2 sông lớn là Kim Sơn (62km) và An Lão (20 km).
Hai con sông này gặp nhau tại Phú Văn (Ân Thạnh) và hợp thành dòng sông Lại đổ ra cửa An Dũ (Hoài Hương – Hoài Nhơn). Hai dòng sông này chảy quanh co, uốn lượn nên đã hình thành các bãi bồi và các cánh đồng màu mỡ phù sa trên địa bàn huyện. Hệ thống sông suối ở Hoài Ân chia cắt mạnh địa hình, tuy gây khó khăn cho việc giao lưu giữa các vùng, nhất là vào mùa mưa, song đóng một vai trò rất quan trọng trong việc cung cấp nước tưới, bồi đắp phù sa, điều hòa khí hậu… để phát triển kinh tế của dân cư trên địa bàn. Diện tích đất tự nhiên của huyện khá lớn nhưng chỉ có chưa đầy 10% là đất nông nghiệp (7.780ha), diện tích đất có rừng cũng chỉ có 11.195ha, còn lại là diện tích đất lâm nghiệp với tổng diện tích là 59.937,65ha chiếm 79,57% đất tự nhiên toàn huyện [59, Tr.
Đây chính là nguồn nguyên liệu thuận lợi cho một số nghề thủ công chế biến nông lâm sản ở huyện Hoài Ân. e 8 Điều kiện thổ nhưỡng, môi sinh của huyện Hoài Ân, Bình Định phù hợp với nhiều loại cây nguyên liệu (ngoài lúa gạo) cho tiểu thủ công nghiệp như: song mây, tre, dâu tằm, .và đặc biệt là có nhóm đất phù sa, đất đỏ bazan, phù hợp với các loại cây trồng như lúa, ngô, đậu, mè, lạc,. Đất đỏ thích hợp cho sự sinh trưởng các loại cây công nghiệp như chè, cà phê,.là nguồn nguyên liệu cung cấp cho các ngành chế biến lương thực thực phẩm. Mặc dù là huyện trung du, không nằm trên trục quốc lộ 1A, nhưng mạng lưới giao thông của Hoài Ân khá phát triển và thuận lợi trong việc giao lưu với các vùng khác.
Phía bắc có tỉnh lộ 629 nối với quốc lộ 1A tại Bồng Sơn (Hoài Nhơn) lên tới huyện lỵ An Lão và Ba Tơ (Quảng Ngãi); phía Nam có tỉnh lộ 630 nơi với quốc lộ 1A tại cầu Dợi (Hoài Đức- Hoài Nhơn) qua huyện lỵ Hoài Ân, lên Kim Sơn (Ân Nghĩa) rồi lên huyện Kbang (Gia Lai) nối với tỉnh lộ 637 qua huyện lỵ Vĩnh Thạnh và nối với quốc lộ 19 tại vườn Xoài (Tây Thuận – Tây Sơn). Ngoài ra còn có tuyến đường từ Tân Thạnh (Ân Tường) nối với quốc lộ 1A tại Mỹ Trinh (Phù Mỹ). Đó cũng là một lợi thế cho việc trao đổi lưu thông các sản phẩm thủ công nghiệp của huyện Hoài Ân với các huyện xung quanh trên địa bàn tỉnh Bình Định. Đặc điểm kinh tế – xã hội Theo các tài liệu lịch sử, năm 1937, Hoài Ân được phiên thành 4 tổng: Phú Hữu, Hoài Đức, Quy Hóa, Kim Sơn với 66 làng.
Trải qua các thời kỳ, địa giới và địa danh làng, xã ở Hoài Ân có nhiều thay đổi. Đầu năm 1946, thực hiện xóa tổng hợp xã lần thứ nhất, 66 làng được gộp thành 22 xã. Đầu năm 1948, hợp xã lần 2 còn lại 8 xã, lấy chữ "Ân" làm tên đầu cho các xã mới: Ân Hòa, Ân Hảo, Ân Tín, Ân Thạnh, Ân Đức, Ân Tường, Ân Hữu, Ân Nghĩa. Năm 1952, xã Hoài Phong của huyện Hoài Nhơn được sáp nhập vào huyện Hoài Ân và đổi tên thành xã Ân Phong.
Sau ngày giải phóng miền Nam, tháng 1-1976, huyện Hoài Ân cùng 2 xã Đak Mang, Bok Tới của huyện Vĩnh Thạnh hợp nhất với huyện An Lão e 9 thành huyện Hoài An với 18 xã, 105 thôn. Tháng 8-1981, huyện Hoài An được tách thành 2 huyện Hoài Ân và An Lão, xã Ân Hảo của Hoài Ân được nhập vào huyện An Lão và xã An Sơn của huyện An Lão được nhập vào huyện Hoài Ân. Lúc này huyện Hoài Ân có 11 xã. Cuối tháng 12-1988, chia xã Ân Tín thành 2 xã Ân Tín và Ân Mỹ, đồng thời thành lập thị trấn huyện lỵ lấy tên là thị trấn Tăng Bạt Hổ.
Xưa nay trong các huyện đồng bằng của tỉnh Bình Định, huyện Hoài Ân vẫn là nơi đất rộng dân thưa, có ba dân tộc Kinh, Bana, H’rê sinh sống từ lâu đời. Theo lịch sử Đảng bộ Hoài Ân thì dân số năm 1910 là 48.079 người, năm 1945 là 54.000 người, năm 1979 là 61.202 người, năm 1989 là 77.016 người, năm 1999 là 90. Đến năm 2009 (theo số liệu thống kế tháng 4/2009) huyện Hoài Ân có số dân là 84.437 người (trong đó dân tộc kinh có 81.390 người, dân tộc Bana có 2.626 người, dân tộc H’rê có 369 người, dân tộc khác có 52 người). Đến nay Hoài Ân có gần 100.000 người [12, Tr.
Trong cuộc đấu tranh chinh phục thiên nhiên chống áp bức và chống giặc ngoại xâm, biết bao thế hệ người Kinh, Bana, H’rê trong huyện Hoài Ân đã đoàn kết giúp đỡ nhau để khai phá, bảo vệ và xây dựng vùng đất heo hút này thành những bản làng, thôn xóm ngày càng đông vui, trù phú như hôm nay. Người Bana và H’rê là cư dân bản địa trên vùng đất Hoài Ân. Trước đây, họ sống du canh du cư, lấy sản xuất nương rẫy thành phương thức canh tác chủ yếu. Ngày nay họ đã sống định canh, định cư tại ba xã vùng cao Bok Tới, Đak Mang, An Sơn và làm ruộng nước khá thành thạo, bước đầu áp dụng một số kỹ thuật canh tác mới, đời sống tiến bộ hơn xưa nhiều.
Người kinh chiếm đa số trong cộng đồng dân cư đang sinh sống trên đất Hoài Ân. Tuy sự có mặt của họ trên vùng đất này tương đối muộn so với các cư dân bản địa nhưng phát triển rất nhanh về số lượng, lại không ngừng bổ sung từ những cư dân các vùng đất khác. Hơn nữa họ vốn mang trong mình truyền thống văn minh nông nghiệp trồng lúa nước, lại có trình độ tổ chức xã hội tương đối cao nên trong suốt chiều dài lịch sử họ là lực lượng chủ e 10 thể trong cuộc đấu tranh để tạo lập cuộc sống và xây dựng quê hương, cũng như đấu tranh chống ngoại xâm bảo vệ độc lập dân tộc theo địa bạ thời Gia Long, các thôn Thế Thạnh, An Thường (Ân Thạnh); An Chiểu, An Hậu, Linh chiểu (Ân Phong),… là những ấp đầu tiên của người kinh ở Hoài Ân. Với những phẩm chất đã được hun đúc của con người nơi đây: cần cù, chịu thương chịu khó, thật thà, anh dũng, yêu lao động.
Tất cả những yếu tố này chính là cơ sở quan trọng cho sự nảy sinh và phát triển các làng nghề thủ công vang bóng một thời của huyện nhà. Năm 2016, dân số trung bình trên địa bàn huyện ước đạt 86. Lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế đạt 53.679 người, trong đó: Đang làm việc trong ngành nông, lâm nghiệp – thủy sản là 28.517 người (nông nghiệp 21.976 người, chiếm 42%; lâm nghiệp 6.279 người, chiếm 12% và thủy sản 262 người chiếm 0,5% trong tổng nguồn lao động của huyện). Tuy có một lực lượng lao động khá lớn nhưng chủ yếu lao động ở ngành nông, lâm nghiệp – thủy sản chưa qua đào tạo về chuyên môn nghiệp vụ và có độ tuổi trung bình khá cao, hơn nữa phần lớn lực lượng lao động trẻ, lao động được đào tạo không có công việc bố trí phù hợp và ổn định nên đa số đi tìm việc làm ở nơi khác, đây là một trở ngại lớn cho việc đầu tư sức lao động và chuyển giao khoa học kỹ thuật trong nông nghiệp [59, Tr.
Toàn huyện có khoảng 11.191 hộ sản xuất nông nghiệp; 1532 hộ sản xuất lâm nghiệp và 54 hộ hoạt động thủy sản. Tính chất sản xuất của các hộ gia đình chủ yếu là: quy mô sản xuất nhỏ, manh mún, mang nặng tính tự phát… Do đó, việc liên kết trong sản xuất, đầu tư đồng bộ về khoa học kỹ thuật còn hạn chế; sản phẩm đầu ra không đồng nhất về chất lượng và chủng loại, do đó thiếu một khối lượng hàng hóa nông sản đảm bảo yêu cầu cho các hợp đồng tiêu thụ, tạo nên chuỗi liên kết bền vững của thị trường. Đây là một thách thức lớn cho công tác tổ chức sản xuất của địa phương; đòi hỏi bức thiết cho việc hình thành nhiều hơn các mô hình sản xuất trang trại có qui mô lớn; e 11 sự vươn lên một cách tích cực của các hợp tác xã nông nghiệp, nhằm nâng cao sản lượng và giá trị hàng hóa nông sản. Từ trước đến nay kinh tế Hoài Ân chủ yếu là nông nghiệp, bên cạnh đó người ta có thể nhắc đến những nghề thủ công truyền thống của những thợ thủ công trên địa bàn huyện khá phong phú, mang tính đặc trưng riêng được phản ánh qua các giai đoạn lịch sử như: nghề đúc đồng ở thôn Thanh Lương, nghề làm nón ở thôn Vĩnh Đức (xã Ân Tín); nghề đan mây tre ở 2 thôn Đức Long, Gia Trị (xã Ân Đức) và thôn Thanh Tú (thị trấn Tăng Bạt Hổ); nghề làm võng thơm tàu ở thôn Thạch Khê (xã Ân Tường Đông); nghề trồng dâu nuôi tằm ở các địa phương ven sông An Lão, Kim Sơn.
Các sản phẩm thủ công không chỉ đem lại giá trị sử dụng mà còn có giá trị văn hóa, là một trong những sản phẩm thủ công mỹ nghệ đặc trưng của người Hoài Ân.