phần mở đầu và kết luận, luận văn chia thành 4 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng I: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận Chƣơng II: Phƣơng pháp nghiên cứu. Chƣơng III: Phân tích Thực trạng năng lực cạnh tranh dịch vụ truyền hình cáp kỹ thuật số của Tổng công ty Truyền hình cáp Việt Nam. Chƣơng IV: Đề xuất giải pháp, kiến nghị nâng cao năng lực cạnh tranh dịch vụ Truyền hình cáp kỹ thuật số của Tổng công ty Truyền hình cáp Việt Nam. 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.
Lý luận chung về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh 1.1 Tình hình nghiên cứu * Về cơ sở lý thuyết: các vấn đề cơ bản của nâng cao năng lực cạnh tranh đã đƣợc trình bày trong các tài liệu sau: - Nguyễn Vĩnh Thanh, 2005, Nâng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp thương mại Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế. Nhà xuất bản Lao động - xã hội. - Trần Sửu, 2006, Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong điều kiện toàn cầu hóa. Nhà xuất bản Lao động.
Là những công trình đã làm rõ một số lý luận về sức cạnh tranh của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trƣờng, trình bày kinh nghiệm trong nƣớc và quốc tế về nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp và đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam trong thời gian qua trên cơ sở đó đề xuất giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam. * Ngoài ra còn có các đề tài và luận văn nghiên cứu về nâng cao năng lực cạnh tranh tại các doanh nghiệp nhƣ sau: - Nguyễn Thành Lƣơng, 2006. Năng lực cạnh tranh của Truyền hình Việt Nam. Luận văn thạc sĩ kinh tế, tập trung đánh giá thực trạng phát triển và năng lực cạnh tranh của Truyền hình Việt Nam giai đoạn 1995 – 2005 và đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Truyền hình Việt Nam giai đoạn tiếp theo.
- Bùi Chí Trung, 2008. Nghiên cứu xu hướng phát triển của truyền hình từ góc độ kinh tế học truyền thông. Luận án tiến sĩ ngành báo chí học đề xuất giải pháp phát triển truyền hình trên các phƣơng diện: chiến lƣợc, công nghệ, tổ chức, quản lý, kinh doanh… để kinh tế truyền hình có vị trí xứng đáng hơn trong sự phát triển ngành truyền thông nói riêng cũng nhƣ kinh tế xã hội nói chung. Tất cả các đề tài, đề án trên đã nêu đƣợc thực trạng năng lực cạnh tranh, nhƣng chƣa chỉ rõ về thực trạng năng lực cạnh tranh đối với Tổng công ty Truyền hình cáp 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Việt Nam (VTVcab).
Vì vậy, việc nghiên cứu “Nâng cao năng lực cạnh tranh dịch vụ truyền hình cáp kỹ thuật số của Tổng công ty Truyền hình cáp Việt Nam (VTVcab)” là một nghiên cứu mới không trùng lặp với các nghiên cứu trƣớc đây. Luận văn đã thể hiện đƣợc các điểm mới đó là: luận văn đã tập trung nghiên cứu vấn đề nâng cao năng lực cạnh tranh cho một loại hình dịch vụ cụ thể là Dịch vụ truyền hình cáp kỹ thuật số. Bên cạnh đó, luận văn đã đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của dịch vụ phù hợp với bối cảnh cạnh tranh mới. Khái niệm và phân loại cạnh tranh 1.
Khái niệm Từ lâu, khái niệm về cạnh tranh đã đƣợc nhiều nhà kinh tế của các trƣờng phái kinh tế khác nhau quan tâm và nghiên cứu trên nhiều phƣơng diện với phạm vi và cấp độ khác nhau. Theo Từ điển Bách khoa (1995), NXB Từ điển Bách Khoa, Hà Nội. của Việt Nam thì “Cạnh tranh (trong kinh doanh) là hoạt động tranh đua giữa những ngƣời sản xuất hàng hóa, giữa các thƣơng nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trƣờng, chi phối quan hệ cung cầu, nhằm dành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ thị trƣờng có lợi nhất”. Kinh tế học của P.Samuelson (2000), Kinh tế học, NXB Giáo dục.
Định nghĩa “Cạnh tranh là sự tranh giành thị trƣờng để tiêu thụ sản phẩm giữa các nhà doanh nghiệp”.Porter (1990), The Competitive Advantage of Nation, London:Macmilan cho rằng “Cạnh tranh là giành lấy thị phần. Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có”. Trong khi đó, nghiên cứu về cạnh tranh, K. Mác –Ăngghen toàn tập.
NXB Sự thật cho rằng “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tƣ bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa để thu lợi nhuận siêu ngạch”. Và theo nhận định của tác giả cạnh tranh xét về bản chất luôn đƣợc nhìn nhận 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trong trạng thái động và ràng buộc trong mối quan hệ so sánh tƣơng đối, mọi quan hệ giao tiếp mà các bên tham gia nỗ lực tìm kiếm vị thế cho mình đều có thể diễn tả trong khái niệm cạnh tranh. Một mặt, cạnh tranh tạo động lực cho việc vƣơn tới một kết quả tốt nhất, nhƣng mặt khác nó có thể dẫn đến một thực trạng tiêu cực với kết quả trái ngƣợc. Cạnh tranh là quá trình kinh tế mà ở đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau, tìm mọi biện pháp, cả nghệ thuật lẫn thủ đoạn để đạt đƣợc mục tiêu kinh tế của mình, thƣờng là nhằm chiếm lĩnh thị trƣờng, giành lấy khách hàng cũng nhƣ các điều kiện sản xuất, tiêu thụ có lợi nhất, tối đa hoá lợi nhuận, cạnh tranh nâng cao vị thế của ngƣời này và làm giảm vị thế của những ngƣời còn lại.
Vai trò của cạnh tranh Cạnh tranh có vai trò rất to lớn và quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế nói chung và của bản thân mỗi doanh nghiệp nói riêng, bất kỳ một nền kinh tế nào cũng cần thiết phải duy trì sự cạnh tranh. Trên phƣơng diện xã hội, cạnh tranh là một hình thức mà Nhà nƣớc sử dụng để chống độc quyền, tạo cơ hội để ngƣời tiêu dùng có thể lựa chọn đƣợc những sản phẩm có chất lƣợng tốt, giá rẻ, chính vì vậy cạnh tranh là để bảo vệ lợi ích của ngƣời tiêu dùng. Ở góc độ doanh nghiệp, cạnh tranh thúc đẩy mỗi doanh nghiệp tự khẳng định vị trí của mình trên thị trƣờng, tự hoàn thiện bản thân để vƣơn lên dành ƣu thế so với các đối thủ cạnh tranh khác. Cạnh tranh thực chất là cuộc chạy đua không có đích, là quá trình mà các doanh nghiệp đƣa ra các biện pháp kinh tế đích thực và sáng tạo nhằm đứng vững trên thƣơng trƣờng và tăng lợi nhuận trên cơ sở tạo ra ƣu thế về sản phẩm và giá bán bằng cách tăng chất lƣợng và giảm giá thành sản phẩm.
Muốn vậy, mỗi doanh nghiệp phải không ngừng đƣa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào SXKD nhằm nâng cao chất lƣợng sản phẩm và dịch vụ, bên cạnh đó phải tối ƣu hóa các yếu tố đầu vào của sản xuất để tối đa hoá thành quả của sản phẩm. Trong cơ chế thị trƣờng, doanh nghiệp nào cung cấp hàng hoá, dịch vụ với chất lƣợng tốt và giá thành thấp sẽ chiến thắng. Theo nhận định riêng của tác giả cạnh tranh là động lực cơ bản nhằm kết hợp một cách tối ƣu nhất lợi ích của các doanh nghiệp, lợi ích của ngƣời tiêu dùng và lợi 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ích của xã hội. Cạnh tranh là động lực phát triển của hệ thống doanh nghiệp nói chung và của từng doanh nghiệp nói riêng, là công cụ hữu hiệu của Nhà nƣớc để điều tiết các hoạt động kinh doanh trên thị trƣờng.
Khái niệm năng lực cạnh tranh Trên phƣơng diện quốc gia, năng lực cạnh tranh quốc gia đƣợc xem là là năng lực của một nền kinh tế đạt đƣợc tăng trƣởng bền vững, thu hút đƣợc đầu tƣ, đảm bảo ổn định đƣợc kinh tế xã hội, nâng cao đời sống của ngƣời dân.Porter (1990), The Competitive Advantage of Nation, London:Macmilan cho rằng: “Năng lực cạnh tranh chỉ có nghĩa khi xem xét ở cấp độ quốc gia là năng suất”. Từ góc độ doanh nghiệp, khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp đến nay vẫn chƣa đƣợc hiểu một cách thống nhất, có một số cách tiếp cận cụ thể về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp đáng chú ý: Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy trì và mở rộng thị phần, thu lợi nhuận của doanh nghiệp. Đây là cách quan niệm khá phổ biến hiện nay, theo đó năng lực cạnh tranh là khả năng tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ so với đối thủ và khả năng “thu lợi” của các doanh nghiệp. Theo Krugman:(1994), Compettiveness, A Dangerous Obsession, Foreign Affairs, March/April “Năng lực cạnh tranh ít nhiều chỉ phù hợp ở cấp độ doanh nghiệp vì ranh giới cận dƣới ở đây rất rõ ràng, nếu công ty không bù đắp nổi chi phí thì hiện tại hoặc sau này sẽ phải từ bỏ kinh doanh hoặc phá sản”.
Năng lực cạnh tranh đồng nghĩa với duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh. Theo cách hiểu này, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng tạo dựng, duy trì, sử dụng và sáng tạo các lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp. Có thể đƣa ra khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhƣ sau: Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là tổng hợp năng lực nắm giữ và nâng cao thị phần của doanh nghiệp, là trình độ SXKD sản phẩm, dịch vụ đáp ứng đƣợc yêu cầu thị trƣờng. Nói một cách cụ thể, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng doanh nghiệp tạo ra đƣợc lợi thế cạnh tranh, khả năng tạo năng suất và chất lƣợng cao hơn đối thủ cạnh tranh, chiếm lĩnh thị phần lớn, tạo ra thu nhập cao và phát triển bền vững.
7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ Một sản phẩm, dịch vụ đƣợc coi là có năng lực cạnh tranh khi nó đáp ứng đƣợc nhu cầu của khách hàng về chất lƣợng, giá cả, tính năng, kiểu dáng, tính độc đáo hay sự khác biệt, thƣơng hiệu, bao bì… hơn hẳn so với những sản phẩm, dịch vụ cùng loại. Năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ chính là năng lực nắm giữ và nâng cao thị phần của loại sản phẩm, dịch vụ đó so với các sản phẩm dịch vụ cùng loại tiêu thụ tại cùng một khu vực thị trƣờng trong cùng một khoảng thời.2 Năng lực cạnh tranh dịch vụ truyền hình trả tiền 1. Khái niệm dịch vụ Truyền hình trả tiền Thuật ngữ truyền hình (Television) có nguồn gốc từ tiếng Latinh và tiếng Hy lạp và có nghĩa là “xem đƣợc từ xa”.