Chương 1 đã giới thiệu khái quát về đề tài nghiên cứu. Chương 2 trình bày cơ sở khoa học về năng lực cạnh tranh và các lý thuyết tiếp cận về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cũng như ứng dụng của chúng vào lĩnh vực ngân hàng. Ngoài ra, chương này cũng tóm lược các nghiên cứu trước đây về năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng trên thế giới và tại Việt Nam. Tổng quát về cạnh tranh 2.
Khái niệm về cạnh tranh Cạnh tranh là một khái niệm mà ở mỗi lĩnh vực sẽ có nhiều cách hiểu khác nhau nhưng tựu trung lại vẫn là động thái đấu tranh của một người nhằm giành lấy phần thắng giữa nhiều chủ thể cùng tham dự. Trong kinh tế, cạnh tranh là một đặc trưng cơ bản đồng thời cũng là động lực để nền kinh tế thị trường ngày một hoàn thiện và phát triển tốt hơn. Theo Michael Porter (1985) thì “Cạnh tranh là giành lấy thị phần. Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có.
Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi. Theo Từ Điển Bách Khoa Việt Nam: “Cạnh tranh trong kinh doanh là hoạt động ganh đua giữa những người sản xuất hàng hóa, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối quan hệ cung cầu nhằm giành điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất” (Vũ Văn Vụ và cộng sự, 2005). Cạnh tranh được phân thành nhiều loại với các tiêu thức khác nhau. Căn cứ vào chủ thể tham gia thị trường thì có cạnh tranh giữa những nhà sản xuất, giữa những người mua và người bán, giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng, giữa người TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 mua với nhau.
Căn cứ theo tính chất của phương thức cạnh tranh thì có cạnh tranh lành mạnh và cạnh tranh không lành mạnh. Căn cứ vào hình thái của cạnh tranh thì có cạnh tranh hoàn hảo và cạnh tranh không hoàn hảo. Xét theo mục tiêu kinh tế của các chủ thể trong cạnh tranh thì có cạnh tranh trong nội bộ ngành và cạnh tranh giữa các ngành. Tùy vào từng đặc thù của doanh nghiệp mà các công cụ cạnh tranh trên thị trường có sự vận dụng khác nhau bao gồm: cạnh tranh về sản phẩm (mẫu mã, tính năng, chất lượng,…); cạnh tranh về giá (giá thành, giá dịch vụ,…); cạnh tranh về kênh phân phối bán hàng; cạnh tranh về khả năng dự báo và thích ứng với biến động của nền kinh tế.
Khái niệm về năng lực cạnh tranh Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là những yếu tố thể hiện thực lực và lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thỏa mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi ngày càng cao hơn. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nếu hiểu tổng quát nó sẽ là khả năng của doanh nghiệp chống lại các lực lượng cạnh tranh trên thị trường. Theo mô hình 5 áp lực của Micheal Porter thì có 5 lực lượng điều khiển cuộc cạnh tranh trong ngành, đó là: các đối thủ cạnh tranh trong ngành, các đối thủ tiềm năng, nhà cung ứng, khách hàng và sản phẩm thay thế. Khái niệm lợi thế cạnh tranh “ Lợi thế cạnh tranh là những gì làm cho doanh nghiệp nổi bật hay khác biệt so với các đối thủ cạnh tranh.
Đó là những thế mạnh mà tổ chức có hoặc khai thác tốt hơn những đối thủ cạnh tranh” (Micheal Porter, 1985, trang 33). Lợi thế cạnh tranh của một doanh nghiệp được thể hiện ở hai khía cạnh sau: + Dẫn đầu về giá (lợi thế về chi phí): điều này có nghĩa là doanh nghiệp đeo đuổi mục tiêu giảm chi phí đến mức thấp nhất có thể được nhằm mở rộng và tăng trưởng thị phần để từ đó thu về lợi nhuận cao hơn so với các đối thủ cùng ngành. + Sự khác biệt hóa: là lợi thế mà doanh nghiệp có được từ việc tạo nên sự khác biệt về sản phẩm, tính năng gia tăng của sản phẩm, chất lượng dịch vụ,… độc đáo, tiện ích, thỏa mãn giá trị và tiêu chuẩn của khách hàng hơn so với các đối thủ. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 Trong môi trường hội nhập kinh tế toàn cầu ngày nay, doanh nghiệp nào sở hữu và phát huy được càng nhiều lợi thế cạnh tranh thì càng có nhiều cơ hội bảo toàn và chiếm lĩnh thị phần hơn so với các chủ thể tham gia khác.
Cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng thương mại Cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng là một loại hình cạnh tranh chuyên ngành có những đặc điểm riêng biệt, thể hiện như sau: Thứ nhất, năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại là một loại năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp hoạt động về dịch vụ tài chính. Cũng như các sản phẩm dịch vụ nói chung, sản phẩm dịch vụ ngân hàng có hai đặc tính là tính vô hình và tính không tách rời. Với tính vô hình của sản phẩm dịch vụ ngân hàng đã dẫn đến việc khách hàng không nhìn thấy, không thể nắm giữ được, đặc biệt là khó khăn trong đánh giá chất lượng sản phẩm dịch vụ trước khi mua, trong quá trình mua và sau khi mua. Với tính không tách rời của sản phẩm dịch vụ ngân hàng được thể hiện trong quá trình cung ứng sản phẩm của ngân hàng, quá trình cung ứng sản phẩm dịch vụ ngân hàng thường diễn ra đồng thời với quá trình tiêu thụ.
Thứ hai, là loại hình năng lực cạnh tranh hướng nội. Năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại phức tạp bởi tính đa dạng, nhạy cảm của hoạt động ngân hàng, đặc biệt là quá trình cung ứng sản phẩm dịch vụ ngân hàng có sự tham gia đồng thời của cả cơ sở vật chất, khách hàng và nhân viên ngân hàng. Nhân viên là yếu tố quan trọng trong quá trình cung ứng, chuyển giao sản phẩm dịch vụ ngân hàng. Những biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của toàn thể nhân viên ngân hàng theo định hướng phục vụ khách hàng ngày càng tốt hơn.
Thứ ba, loại hình năng lực cạnh tranh niềm tin. Niềm tin đòi hỏi ngân hàng phải xây dựng được những mối quan hệ bền lâu, tin tưởng lẫn nhau và cùng có lợi cho cả khách hàng và ngân hàng bằng việc luôn giữ đúng những cam kết, cung cấp cho nhau những sản phẩm dịch vụ chất lượng với giá cả hợp lý, đúng lúc, đúng nơi, tăng cường các mối quan hệ về kinh tế, kỹ thuật, nâng cao sự tin tưởng giúp nhau cùng phát triển. Cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng là sự ganh đua xảy ra giữa các ngân hàng nhằm tranh giành thị phần, củng cố gia tăng vị thế so với đối thủ. Các biện pháp mà TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 ngân hàng thường áp dụng để tranh với đối thủ là: giảm lãi suất cho vay, tăng lãi suất tiền gửi, nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ, cải tiến quy trình, thủ tục, nâng cao trình độ và khả năng áp dụng công nghệ thông tin,… Thị trường ngân hàng là một loại thị trường đặc biệt, do vậy sự cạnh tranh diễn ra trong thị trường này luôn phải hướng tới một thị trường lành mạnh, tránh xảy ra rủi ro hệ thống.
Bên cạnh đó việc cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng không phải là cạnh tranh một mất một còn, sự cạnh tranh này nhằm giúp hệ thống Ngân hàng sàng lọc các tổ chức tín dụng yếu kém. Trong các cuộc cạnh tranh, chính khách hàng được hưởng lợi nhiều nhất vì được phục vụ tốt hơn. Các lý thuyết đánh giá năng lực cạnh tranh 2. Mô hình năng lực cạnh tranh của Michael Porter 2.
Mô hình: Theo mô hình phân tích cạnh tranh của Michael Porter (1985) thì các nhân tố thuộc môi trường vi mô có ảnh hưởng đến hoạt động của NHTM như sau : (Nguồn: Micheal Porter, 1985) Hình 2. Mô hình năm lực lượng cạnh tranh của Michael Porter TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Đối thủ cạnh tranh tiềm năng Sự gia nhập của một số NHTM mới thành lập và của một số các doanh nghiệp ngoài ngành muốn xâm nhập vào một lĩnh vực kinh doanh hoàn toàn mới thông qua việc thôn tính các NHTM cũ hoặc thành lập ra một doanh nghiệp để hoạt động ngân hàng nhằm đa dạng hóa về vị trí địa lý và loại hình sản phẩm. Sự xuất hiện của các NHTM mới khi các điều kiện gia nhập ngành ngày càng được nới lỏng bởi tác động của quá trình hội nhập quốc tế đã làm cho mức độ cạnh tranh của các NHTM ngày càng trở nên mạnh mẽ.
Nhà cung ứng Khái niệm nhà cung ứng trong ngành ngân hàng khá đa dạng. Họ có thể là những cổ đông cung cấp vốn cho ngân hàng hoạt động, khách hàng hoặc là những nhà cung ứng cơ sở vật chất, vật tư, máy móc thiết bị, điện, nước, dịch vụ bưu chính, viễn thông. phục vụ cho hoạt động kinh doanh của NHTM. + Cổ đông: chủ yếu đến từ những đại cổ đông có thể có tác động trực tiếp đến chiến lược kinh doanh của một ngân hàng.
Quyền lực của nhà đầu tư sẽ tăng lên rất nhiều nếu như họ có đủ cổ phần và việc sáp nhập với ngân hàng được đầu tư có thể xảy ra. + Khách hàng: chủ yếu là khách hàng tiền gửi cá nhân và khách hàng doanh nghiệp với lượng tiền nhàn rỗi tạm thời hoặc lượng tiền tiết kiệm định kỳ. + Nhà cung cấp thiết bị: Hiện tại ở Việt Nam các ngân hàng thường tự đầu tư trang thiết bị và chọn cho mình những nhà cung cấp riêng tùy theo điều kiện. Điều này góp phần giảm quyền lực của nhà cung cấp thiết bị.
Sản phẩm thay thế Sự ra đời ồ ạt của các tổ chức tài chính trung gian đe dọa lợi thế của các NHTM khi cung cấp các dịch vụ tài chính mới cũng như truyền thống vốn vẫn do các NHTM đảm nhiệm. Các trung gian này cung cấp ra thị trường những sản phẩm mang tính khác biệt và tạo điều kiện cho người mua có nhiều cơ hội để lựa chọn hơn. Điều này tất yếu sẽ làm giảm tốc độ phát triển cũng như thị phần của các NHTM, từ đó ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi của ngân hàng. Vì vậy, các NHTM đã phải có các chiến lược thích hợp để giành ưu thế cạnh tranh từ nhân tố này.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.