CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ƯU ĐÃI, HỖ TRỢ ĐẦU TƯ VÀ PHÁP LUẬT VỀ ƯU ĐÃI, HỖ TRỢ ĐẦU TƯ Ở VIỆT NAM 1. Khái niệm và đặc điểm của ưu đãi đầu tư và hỗ trợ đầu tư 1. Khái quát về đầu tư Đầu tư là một thuật ngữ phổ biến thường được sử dụng trong các lĩnh vực kinh tế, xây dựng hoặc pháp lý. Trong từng lĩnh vực, đầu tư lại được tiếp cận dưới cách hiểu khác nhau nên định nghĩa về thuật ngữ này khá đa dạng.
Khái niệm đầu tư theo cách hiểu thông thường là việc “bỏ nhân lực, vật lực, tài lực vào công việc gì, trên cơ sở tính toán hiệu quả kinh tế, xã hội”[28, tr. Trong khoa học kinh tế, đầu tư được quan niệm là việc sử dụng các nguồn lực hiện tại nhằm đem lại cho nền kinh tế những kết quả ở tương lai lớn hơn giá trị nguồn lực đã được sử dụng để đạt được kết quả đó. Theo nghĩa rộng, đầu tư được hiểu là hoạt động sử dụng các nguồn lực ở hiện tại để tạo ra các tài sản mới (vật chất hoặc trí tuệ) cho xã hội; theo nghĩa hẹp thì tuỳ vào mỗi lĩnh vực chuyên ngành, khái niệm này sẽ được tiếp cận cụ thể hơn. Các nguồn lực được sử đụng dể đầu tư rất đa dạng, có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, sức lao động, tài sản trí tuệ,….
Trong cơ chế thị trường, hoạt động đầu tư có thể do nhiều chủ thể tiến hành như là các tổ chức hoặc cá nhân với ngày càng đa dạng về tính chất. Hoạt động đầu tư suy cho cùng cũng hướng đến một mục đích chung nhất là làm tăng thêm tài sản vật chất (tiền, tài sản,…) hoặc để gia tăng nguồn nhân lực cho sự phát triển lâu dài. Kết quả của hoạt động đầu tư không chỉ là mang lại lợi ích trực tiếp cho nhà đầu tư mà còn mang lại lợi ích cho nền kinh tế và cho toàn xã hội. Dưới góc độ pháp lý, đầu tư là hoạt động được thực hiện bởi các nhà đầu tư theo những hình thức luật định nhằm đạt được một mục tiêu nhất định.
8 Chính sự khác biệt về mục tiêu đạt được của hoạt động đầu tư đã phân chia đầu tư thành hai nhóm là đầu tư có tính chất lợi nhuận và đầu tư phi lợi nhuận. Tuy nhiên cần lưu ý là pháp luật đầu tư hiện hành chỉ điều chỉnh hoạt động đầu tư có tính chất vì lợi nhuận (thương mại). Quan điểm lập pháp này đã được thể hiện rõ từ Luật Đầu tư năm 2005 cho đến Luật Đầu tư năm 2014. Tại Luật Đầu tư 2005, văn bản pháp luật đầu tiên đưa định nghĩa về hoạt động đầu tư, theo đó thì “Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan”.
Nhằm củng cố cho định nghĩa này, thì định nghĩa hoạt động thương mại tại Luật Thương mại năm 2005 cũng đã nhận định hoạt động đầu tư là một bộ phận của hoạt động thương mại: “Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác”. Hoạt động đầu tư có những đặc điểm của hoạt động thương mại nói chung [43, tr.32-45], và có mối liên hệ mất thiết với các bộ phận khác của hoạt động thương mại. Sự khác biệt cơ bản của hoạt động đầu tư so với các hoạt động thương mại khác thể hiện ở chỗ đầu tư là hoạt động có tính chất tạo lập (bỏ vốn) nhằm hình thành cơ sở vật chất, kỹ thuật cũng như các điều kiện khác để thực hiện hoạt động thương mại [44, tr. Về sau khi Luật Đầu tư 2014 được ban hành thì cũng đã kế thừa quan điểm lập pháp trên về đầu tư và thể hiện có phần rõ ràng hơn khi tại phần giải thích từ ngữ không sử dụng thuật ngữ “đầu tư” như tại Luật Đầu tư 2005 mà chuyển sang dùng thuật ngữ “đầu tư kinh doanh”, theo đó “Đầu tư kinh doanh là việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinh doanh thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế; đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện 9 dự án đầu tư”.
Kết hợp với quy định về thuật ngữ “kinh doanh” tại Luật Doanh nghiệp năm 2014 thì ta có thể hiểu đầu tư kinh doanh là việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi. Hoạt động đầu tư kinh doanh được thực hiện thông qua nhiều hình thức như đầu tư thành lập tổ chức kinh tế, đầu tư theo hợp đồng hoặc thực hiện dự án đầu tư. Về lý luận cũng như thực tiễn áp dụng, hoạt động đầu tư kinh doanh được thực hiện trong hầu hết các lĩnh vực của đời sống, trên phạm vi địa lý rộng khắp với nguồn vốn đa dạng. Vì vậy để quản lý được hoạt động này cũng như phục vụ cho việc xây dựng một hành lang pháp lý vững chắc, việc phân loại đầu tư theo các tiêu chí nhất định là việc làm cần thiết.
Theo đó có thể phân loại đầu tư kinh doanh thành các nhóm dựa vào các tiêu chí sau: - Căn cứ vào nguồn vốn đầu tư, đầu tư kinh doanh có thể chia thành hoạt động đầu tư bằng nguồn vốn trong nước và đầu tư bằng nguồn vốn nước ngoài. Ngay cả bản nhân nguồn vốn trong nước cũng có thể chia thành nguồn vốn nhà nước và nguồn vốn tư nhân (ngoài nhà nước). - Căn cứ vào mục đích của nhà đầu tư, đầu tư kinh doanh có thể chia thành đầu tư kinh doanh (vì lợi nhuận) và đầu tư phi lợi nhuận. - Căn cứ vào quan hệ quản lý của nhà đầu tư, có thể chia hoạt động đầu tư kinh doanh thành đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp.
Sự phân chia này được luật hoá tại Đ21 và Đ26 Luật Đầu tư 2005, đặc biệt sự ghi nhận về hình thức đầu tư gián tiếp tạo nền tảng pháp lý cho sự ra đời của Luật Chứng khoán năm 2006. Tuy nhiên tại Luật Đầu tư 2014, sự phân loại này không còn được sử dụng nữa mà sự phân biệt giữa đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp chỉ còn tồn tại dưới dạng lý luận vì sự khác biệt giữa hai hình thức đầu tư này chỉ mang tính chất tương đối. 10 - Căn cứ vào lĩnh vực đầu tư, đầu tư kinh doanh có thể phân thành đầu tư phát triển khoa học kỹ thuật, đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, đầu tư phát triển sản xuất, đầu tư phát triển văn hoá giáo dục,… Nhìn chung các hoạt động đầu tư này luôn có sự tương tác với nhau, kết quả của hoạt động này là tiền đề để phát triển của hoạt động kia. Khái niệm, đặc điểm của ưu đãi, hỗ trợ đầu tư Pháp luật đầu tư Việt Nam không đưa ra một định nghĩa cụ thể về ưu đãi đầu tư và hỗ trợ đầu tư (một số tài liệu gọi chung là biện pháp khuyến khích đầu tư) nên khái niệm về thuật ngữ này chỉ được tiếp cận dưới góc độ khoa học pháp lý.
Dưới góc độ pháp lý, ưu đãi và hỗ trợ đầu tư là một trong những công cụ giúp nền kinh tế của một quốc gia thu hút được nguồn vốn đầu tư một cách tốt nhất. Đặc biệt là trong bối cảnh các quốc gia trên thế giới hiện nay đều đang có chung một vấn đề là tìm kiếm nguồn vốn đầu tư từ các thành phần kinh tế như một yếu tốt thiết yếu giúp nền kinh tế có thể tồn tại và phát triển mạnh mẽ hơn. Nhận thức được tầm quan trọng đó, các nền kinh tế đều ban hành hàng loạt các chính sách, pháp luật nhằm điều chỉnh vấn đề ưu đãi, hổ trợ đầu tư như là thứ công cụ đắc lực và phù hợp với thông lệ quốc tế trong việc tạo lập một môi trường đầu tư hấp dẫn, có sức cạnh tranh cao. Các biện pháp ưu đãi đầu tư và hỗ trợ đầu tư được hiểu là tổng hợp các quy định của Nhà nước ban hành nhằm tạo ra điều kiện thuận lợi hoặc đem lại những lợi thế nhất định cho nhà đầu tư trong nước cũng như nước ngoài khi tiến hành hoạt động đầu tư tại một quốc gia nhất định, trên cơ sở kết hợp hài hoà giữa lợi ích của Nhà nước và của nhà đầu tư.
Trước năm 2005, hệ thống pháp luật đầu tư của Việt Nam được chia thành hai lĩnh vực điều chỉnh chính bao gồm các hoạt động đầu tư trong nước và các hoạt động đầu tư nước ngoài. Về vấn đề ưu đãi, hỗ trợ đầu tư thì lúc bấy giờ Nhà nước đã đặt ra những điều kiện thuận lợi hơn cho các nhà đầu tư 11 trong nước khi các chủ thể này tiến hành hoạt động đầu tư vào những lĩnh vực, địa bàn nằm trong danh mục được hưởng ưu đãi, hỗ trợ đầu tư [38]. Mức độ ưu đãi, hỗ trợ cho nhà đầu tư được nhìn nhận trong tương quan so sánh với điều kiện đầu tư của những nhà đầu tư khác hoặc chính những nhà đầu tư đó khi đầu tư vào những dự án thuộc danh mục đượng hưởng ưu đãi, hỗ trợ đầu tư. Bên cạnh đó, Nhà nước cũng ban hành những quy định mà thông qua đó dành cho nhà đầu tư nước ngoài những ưu đãi khi những chủ thể này tiến hành hoạt động đầu tư tại Việt Nam.
Những ưu đãi, hỗ trợ này bao gồm nhiều loại như liên quan đến thủ tục hành chính, tài chính, đất đai, sử dụng nguồn tài nguyên và các ưu đãi, hỗ trợ khác theo hướng có lợi cho nhà đầu tư. Ưu đãi và hỗ trợ đầu tư là công cụ thể hiện thái độ của quốc gia tiếp nhận đầu tư đối với các nhà đầu tư, số lượng các biện pháp này sẽ tỉ lệ thuận với mức độ mong muốn được tiếp nhận những nguồn vốn đầu tư từ các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Kể từ năm 2005, khi Quốc hội thông qua Luật Đầu tư đã thể hiện tư tưởng thống nhất về các hoạt động đầu tư, theo đó không còn phân loại thành hoạt động đầu tư trong nước và hoạt động đầu tư nước ngoài nữa.