Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU DO NHẦM LẪN 1. Khái niệm hợp đồng vô hiệu 1. Khái niệm hợp đồng Hợp đồng là một công cụ chủ yếu để xác lập quan hệ giữa người và người liên quan đến tài sản trong một xã hội có tổ chức. Các quan hệ ấy không chỉ hình thành trong dân sự mà còn cả trong lĩnh vực thương mại, lao động, thậm chí trong lĩnh vực hành chính.
Trong mỗi loại hợp đồng, trong mỗi lĩnh vực có những đặc điểm rất riêng và do đó, được chi phối bởi những quy định riêng [45, tr. Tuy nhiên là sản phẩm của sự gặp gỡ ý chí, tất cả các hợp đồng đều hình thành và vận hành trên cơ sở nguyên tắc tự do kết ước và những nguyên tắc cơ bản khác mà xoay quanh những nguyên tắc đó, một hệ thống các quy tắc pháp lý được xây dựng và tạo thành luật về quan hệ kết ước hay còn gọi là luật chung về hợp đồng. Theo quy định tại Điều 388 BLDS năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) quy định khái niệm hợp đồng như sau: “Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” [32]. Tuy nhiên, quan hệ pháp luật dân sự theo nghĩa rộng bao gồm cả những quan hệ về đầu tư, lao động, kinh doanh thương mại, bảo hiểm… Theo đó, nếu trong khái niệm về hợp đồng từ “dân sự” được đặt đằng sau hai từ “hợp đồng” và sau hai từ nghĩa vụ thì điều này dẫn đến thực tiễn thi hành pháp luật có cách hiểu rằng những quy định của BLDS hiện hành chỉ liên quan đến hợp đồng dân sự.
Do đó, mà tại BLDS năm 2015 các nhà làm luật đã có những chỉnh sửa liên quan đến khái niệm “hợp đồng” để khắc phục bất cập trên. Cụ thể, Điều 385 BLDS năm 2015 quy định: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ 7 dân sự”. So với BLDS hiện hành thì BLDS năm 2015 đã bỏ cụm từ “dân sự” sau hai từ “hợp đồng”. Quy định mới về khái niệm hợp đồng tại Điều 385 của BLDS năm 2015 là điểm mới quan trọng, đáng chú ý không những về mặt kỹ thuật lập pháp và còn làm tăng tính khả thi, minh bạch trong thực tiễn áp dụng [43, tr.
Trong phạm vi luận văn, thì hợp đồng được hiểu là sự thoả thuận có hiệu lực pháp luật hoặc làm phát sinh nghĩa vụ pháp lý của hai hay nhiều bên nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ. Hợp đồng vô hiệu Cho đến nay, khoa học pháp lý vẫn chưa có một khái niệm thống nhất về HĐVH mà chỉ nêu căn cứ xác định HĐVH hoặc có hiệu lực. Người làm luật không định nghĩa cụ thể như thế nào là HĐVH mà chỉ xác định hệ quả của sự vô hiệu. Theo khoản 1, Điều 137 BLDS năm 2005 quy định “giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập” [32].
Trên cơ sở khái niệm hợp đồng, giao dịch dân sự vô hiệu, trong phạm vi nghiên cứu của luận văn: Hợp đồng vô hiệu được hiểu là hợp đồng khi giao kết và thực hiện không đảm bảo những điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự, hoặc đối tượng của hợp đồng không thể thực hiện được vì lý do khách quan. Phân loại HĐVH: Căn cứ váo thủ tục tố tụng có HĐVH tuyệt đối và HĐVH tương đối - HĐVH tuyệt đối: Là những hợp đồng bị xem là đương nhiên vô hiệu do việc xác lập hợp đồng là trái pháp luật, xâm phạm tới lợi ích của nhà nước hoặc lợi ích công cộng. Hợp đồng thuộc một trong các trường hợp sau thì bị coi là vô hiệu tuyệt đối: + HĐVH do giả tạo + Hợp đồng có nội dung, mục đích vi phạm điều cấm của pháp luật + Hợp đồng có nội dung, mục đích trái đạo đức xã hội 8 Hợp đồng không đúng hình thức do pháp luật quy định và đã được Tòa án cho các bên thời hạn để thực hiện đúng quy định về hình thức này nhưng hết thời hạn đó mà các bên vẫn chưa thực hiện; hoặc trường hợp pháp luật có quy định về hợp đồng vi phạm hình thức nhưng các bên chưa thực hiện hợp đồng và các bên có tranh chấp thì hợp đồng bị xem là vô hiệu [47]. Một HĐVH tuyệt đối thì không giải quyết theo yêu cầu của các bên.
Mọi trường hợp đều giải quyết theo quy định của pháp luật và không được hòa giải, không có quyền công nhận giá trị pháp lý của hợp đồng trong quá trình thụ lý và giải quyết tranh chấp về hợp đồng hoặc các nội dung pháp lý có liên quan [47]. - HĐVH tương đối: Là những hợp đồng được xác lập, nhưng có thể bị Tòa án tuyên bố là vô hiệu theo yêu cầu của người có quyền và lợi ích liên quan. Sự vô hiệu tương đối là ở chỗ: giao dịch dân sự đó “có thể vô hiệu” hay “không đương nhiên bị xem là vô hiệu” vì nó chỉ xâm hại trực tiếp tới quyền lơi hợp pháp của cá nhân của từng bên chủ thể tham gia. Do đó, hợp đồng này nếu không có sự xem xét của Tòa án thì vẫn có hiệu lực.
Trong trường hợp muốn tiêu hủy hợp đồng này, các bên phải yêu cầu Tòa án giải quyết theo thủ tục tư pháp thông thường chứ hợp đồng không đương nhiên bị xem là vô hiệu. Trên thế giới, hiện có ba cách thức xây dựng quy tắc pháp lý để xác định HĐVH, cụ thể: Thứ nhất, quy định các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng, theo đó, những HĐVH được xác định là hợp đồng không thoả mãn những điều kiện có hiệu lực. Các nước quy định theo cách này là các nước theotruyền thống pháp luật La Mã. Cách thức quy định này cho thấy sự can thiệp mạnh của Nhà nước đến quan hệ hợp đồng.
9 Thứ hai, liệt kê các trường hợp vô hiệu của hợp đồng và việc xác định hợp đồng có hiệu lực bằng phương pháp loại suy. Quy định theo cách này là các nước như Nhật bản, Cộng hoà Liên bang Đức. Thứ ba, quy định các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng và quy định những trường hợp vô hiệu của hợp đồng. Quy định theo cách này có vẻ đảm bảo cả về lôgíc hình thức và lôgíc biện chứng, tuy nhiên, đã thể hiện sự can thiệp quá sâu vào quan hệ luật tư vốn dĩ “cốt ở đôi bên”.
Việt Nam là nước có quy định về HĐVH theo cách này [54]. Ba cách thức xây dựng quy này hoặc xuất phát từ những đặc điểm chung mang tính bản chất của hợp đồng và ý chí của nhà làm luật. Tuỳ theo điều kiện lịch sử, kinh tế xã hội và nhu cầu cường thịnh của quốc gia hay khu vực mà nhà làm luật can thiệp nhiều hay ít vào quan hệ hợp đồng. Ví dụ, Cộng Hoà Pháp, Trung Quốc… không can thiệp vào quan hệ hợp đồng bằng cách quy định hình thức là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng; Thái Lan, Việt Nam.
vẫn ghi nhận hình thức là điều kiện có hợp đồng; Châu Âu không có sự can thiệp nào liên quan đến hình thức của hợp đồng “Hợp đồng có thể được chứng minh bằng bất kì cách thức nào, kể cả bằng nhân chứng”. Nghiên cứu các quy định về HĐVH theo ba cách trên cho thấy việc xác định HĐVH theo các dấu hiệu sau [54, tr.38-39]: Năng lực giao kết của các chủ thể: Chủ thể là một trong những yếu tố cấu thành quan hệ pháp luật nói chung hay quan hệ hợp đồng nói riêng, trong quan hệ hợp đồng tối thiểu phải có hai chủ thể. Các chủ thể là cá nhân có thể tự nhân danh chính mình hoặc thông qua người đại diện để xác lập hợp đồng; chủ thể là tổ chức xác lập hợp đồng thông qua người đại diện. Như vậy, việc giao kết hợp đồng buộc phảithông qua hành vi của con người cụ thể.
Hành vi hợp pháp thì được pháp luật thừa nhận và ngược lại, do đó, khi tham gia giao kết hợp đồng chủ thể phải có năng lực để nhận biết về hành vi của mình, đó 10 chính là năng lực hành vi - một trong những yếu tố căn bản để tạo lên thẩm quyền giao kết hợp đồng. Đối với cá nhân khi tự nhân danh mình tham gia quan hệ hợp đồng năng lực hành vi của họ có ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của họ. Một cá nhân luôn được coi là có thể thiệt hại khi khi họ tham gia quan hệ hợp đồng tại thời điểm bị hạn chế hoặc không có năng lực hành vi hoặc năng lực hành vi chưa đầy đủ. Trên cơ sở đó, pháp luật cho phép bên bị thiệt hại gây ra sự vô hiệu nhằm bảo vệ lợi ích một cách công bằng.
Đối với tổ chức, pháp nhân thì thẩm quyền giao kết hợp đồng được xác định kết hợp giữa năng lực hành vicủa người đại diện và điều kiện, phạm vi kinh doanh.thẩm quyền và năng lực thiết lập thoả thuận là do pháp luật quy định hoặc được ghi nhận trên cơ sở pháp luật. Do vậy, pháp luật chỉ công nhận và bảo vệ những thoả thuận do chủ thể có thẩm quyền giao kết. Ngược lại, thoả thuận đó sẽ không được công nhận, không có hiệu lực pháp luật - vô hiệu [54]. Sự thống nhất ý chí giữa các chủ thể: Một thoả thuận được coi là hình thành khi có sự thống nhất ý chí giữa các bên về một hoặc nhiều vấn đề.
Quá trình đàm phán và thiết lập thoả thuận thực chất là việc tuyên bố ý chí và chấp nhận ý chí của các bên tham gia. Trong quan hệ hợp đồng, việc tuyên bố ý chí gọi là đề nghị giao kết hợp đồng và việc chấp nhận ý chí gọi là xác lập quan hệ hợp đồng. Sự thống nhất ý chí chỉ được coi là đích thực khi các bên tham gia thực hiện hành vi của mình một cách tự nguyện, chính thuật ngữ “thoả thuận” đã thể hiện rõ bản chất nguyên tắc tự nguyện. Pháp luật các nước trên thế giới đều ghi nhận và bảo vệ nguyên tắc tự nguyện trong quan hệ hợp đồng và có thể nói rằng điều kiện bắt buộc đối với việc giao kết hợp đồng là phải đảm bảo nguyên tắc tự nguyện - tự nguyện được hiểu là tự nguyện tuyên bố ý chí và chấp nhận ý chí.
Ý chí của các bên không thể coi là được thống nhất khi ý chí đó được tuyên bố hoặc chấp nhận một cách không tự nguyện.