Chương 1 TÌNH HÌNH CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THANH OAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 1. Các tội xâm phạm sở hữu theo quy định của pháp luật hình sự hiện hành 1. Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về các tội xâm phạm sở hữu Quyền sở hữu là tổng hợp các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực chiếm hữu, sử dụng và định đoạt các tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng. Quyền sở hữu là một trong các quyền của con người và phải được gắn liền với tài sản.
Điều 164 Bộ luật dân sự hiện hành quy định: “Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật. Chủ sở hữu là cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác có đủ ba quyền là quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt tài sản”. Giai đoạn từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985, các tội xâm phạm sở hữu trong giai đoạn này cũng được Nhà nước quy định trong một số Sắc lệnh như: Sắc lệnh số 12 ngày 12 tháng 3 năm 1949 quy định trừng trị các hành vi trộm cắp vật dụng nhà binh trong thời bình và thời kỳ chiến tranh; Sắc lệnh số 267 ngày 15 tháng 6 năm 1958 trừng trị những âm mưu và hành động phá hoại tài sản của nhà nước, của hợp tác xã và của nhân dân, làm cản trở việc thực hiện chính sách kế hoạch của nhà nước về xây dựng kinh tế và văn hóa. Ngoài các Sắc lệnh trên, ở giai đoạn này phải kể đến sự ra đời của bản Pháp lệnh năm 1970 đó là Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa được Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua ngày 21 tháng 10 năm 1970.
Bộ luật hình sự năm 1985 quy định về các tội xâm phạm sở hữu thành hai chương: Chương IV “Các tội xâm phạm sở hữu xã hội chủ nghĩa” và Chương VI “Các tội xâm phạm sở hữu của công dân” của Phần “Các tội phạm”. Xuất phát từ yêu cầu của xã hội, cùng sự phát triển với tốc độ nhanh chóng của tội phạm khi đất nước ta chuyển sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, phát triển theo cơ chế 7 thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, để đảm bảo và thực hiện sự bình đẳng của các thành phần kinh tế đòi hỏi Nhà nước ta phải có quan niệm bình đẳng về tài sản xã hội chủ nghĩa và tài sản riêng của công dân. Vì vậy, các tội xâm phạm quyền sở hữu trong Bộ luật hình sự năm 1999 được xây dựng trên cơ sở sáp nhập chương IV và chương VI trong Bộ luật hình sự năm 1985 thành một chương XIV “Các tội xâm phạm sở hữu”, vì trong nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, các thành phần kinh tế bình đẳng và được pháp luật bảo hộ như nhau; hơn nữa, các hình thức sở hữu đan xen, rất khó phân biệt tách bạch. Sau gần mười năm thi hành, Bộ luật hình sự năm 1999 đã bộc lộ một số hạn chế, bất cập, đòi hỏi phải sửa đổi, bổ sung.
Ngày 19 tháng 6 năm 2009, tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội khoá XII đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự năm 1999, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2010. Theo đó, các tội xâm phạm sở hữu được quy định tại Chương XIV Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), gồm 13 điều từ Điều 133 đến Điều 145, với các tội danh: Cướp tài sản (Điều 133); Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (Điều 134); Cưỡng đoạt tài sản (Điều 135); Cướp giật tài sản (Điều 136); Công nhiên chiếm đoạt tài sản (Điều 137); Trộm cắp tài sản (Điều 138); Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 139); Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 140); Chiếm giữ trái phép tài sản (Điều 141); Sử dụng trái phép tài sản (Điều 142); Hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (Điều 143); Thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản Nhà nước (Điều 144); Vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản (Điều 145). Căn cứ vào tính chất của mục đích phạm tội, khoa học luật hình sự chia các tội xâm phạm sở hữu thành hai nhóm: các tội có mục đích tư lợi (bao gồm 10 tội từ Điều 133 đến Điều 142) và các tội không có mục đích tư lợi (từ Điều 143 đến Điều 145). Đối với nhóm các tội có mục đích tư lợi, dựa vào dấu hiệu chiếm đoạt, chúng lại được chia nhỏ ra thành nhóm có tính chiếm đoạt (bao gồm 8 tội từ Điều 133 đến Điều 140) và nhóm không có tính chiếm đoạt (gồm các Điều 141, 142).
Bộ luật hình sự năm 2015 ra đời, trên cơ sở chuyển hóa các quy định của Hiến pháp năm 2013 về bảo vệ quyền con người, quyền sở hữu tài sản hợp pháp của 8 Nhà nước và của công dân, kế thừa những quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) đã sửa đổi, bổ sung một số quy định liên quan đến các tội xâm phạm sở hữu… Tuy nhiên, vì những lí do khác nhau, Quốc hội khóa XIII đã ra Nghị quyết số 144/2016/QH13 lùi thời hạn thi hành của Bộ luật này. Dấu hiệu pháp lý của các tội xâm phạm sở hữu theo quy định của pháp luật hình sự hiện hành 1. Khái niệm các tội xâm phạm sở hữu Các tội xâm phạm sở hữu là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm đến quan hệ sở hữu của cơ quan, tổ chức và công dân [11, tr4]. Các tội xâm phạm sở hữu có bốn yếu tố cấu thành tội phạm: khách thể, mặt khách quan, chủ thể và mặt chủ quan.
Khách thể của tội phạm Khách thể của các tội xâm phạm sở hữu là quyền sở hữu đối với tài sản, làm thiệt hại cho quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản. Một số hành vi có xâm phạm đến quan hệ sở hữu nhưng không phải là tội xâm phạm sở hữu vì những hành vi này còn đồng thời xâm phạm những quan hệ xã hội khác và được pháp luật hình sự bảo vệ thông qua chế định khác như hành vi tham ô tài sản, lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản. Đối tượng tác động của các tội xâm phạm sở hữu là tài sản thuộc sở hữu của nhà nước, tài sản của tập thể, tài sản của công dân. Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản (Điều 163 Bộ luật dân sự năm 2005).
Một số vật có tính chất và công dụng đặc biệt không được coi là đối tượng tác động của các tội xâm phạm sở hữu mà là đối tượng của hành vi phạm tội khác, ví dụ như: công trình hoặc phương tiện giao thông vận tải, thông tin - liên lạc, công trình điện, dẫn chất đốt, công trình thuỷ lợi, các loại vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự. Vật khi không còn là tài sản vì đã bị chủ tài sản hủy, bỏ không còn là đối tượng tác động của các tội xâm phạm sở hữu. Mặt khách quan của tội phạm 9 Hành vi khách quan của các tội xâm phạm sở hữu tuy khác nhau về hình thức thể hiện nhưng đều có cùng tính chất gây thiệt hại cho quan hệ sở hữu và làm cho chủ sở hữu mất khả năng thực hiện quyền sở hữu của mình. Những hình thức thể hiện của hành vi khách quan có thể là: - Hành vi chiếm đoạt: là hành vi chuyển dịch vị trí pháp lý của tài sản trái pháp luật, chuyển dịch quyền sở hữu hợp pháp của chủ thể sang chủ thể khác không đúng pháp luật.
Hành vi chiếm đoạt được thực hiện bằng nhiều phương pháp, thủ đoạn khác nhau nhưng tất cả mọi hành vi chiếm đoạt đều thực hiện bằng phương pháp chủ động tích cực (phương pháp hành động), biến tài sản của người khác thành tài sản của mình. - Hành vi chiếm giữ tài sản: là hành vi chiếm tài sản của chủ thể đã mất khả năng thực tế quản lý tài sản. - Hành vi sử dụng trái phép tài sản: là trường hợp xâm phạm quyền sử dụng tài sản một cách trái phép, khai thác giá trị sử dụng của tài sản mà không được phép của chủ tài sản hoặc người quản lý tài sản. - Hành vi hủy hoại, làm hư hỏng tài sản, làm mất một phần hoặc toàn bộ giá trị tài sản.
Dấu hiệu hậu quả của các tội xâm phạm sở hữu: hậu quả mà những hành vi nói trên gây ra trước hết là những thiệt hại gây ra cho quan hệ sở hữu, thể hiện dưới dạng thiệt hại vật chất như tài sản bị mất mát, tài sản bị hư hỏng, bị hủy hoại. Dấu hiệu hậu quả cũng như mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả chỉ có ở một số cấu thành tội phạm. Tội phạm được coi là hoàn thành kể từ thời điểm thực hiện hành vi phạm tội như tội cướp tài sản, bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, cưỡng đoạt tài sản. Đối với một số tội khác, các hành vi xâm phạm sở hữu chỉ bị coi là tội phạm khi có một trong các dấu hiệu sau đây: tài sản bị xâm hại có giá trị nhất định, gây hậu quả nghiêm trọng, đã bị xử lý hành chính mà còn vi phạm.
Mặt chủ quan của tội phạm Về dấu hiệu lỗi: có 11/13 tội xâm phạm sở hữu được thực hiện với lỗi cố ý, đó là những tội phạm được quy định từ Điều 133 đến Điều 143 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009). Chỉ có hai tội xâm phạm sở hữu thực hiện bằng 10 lỗi vô ý là tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng đến tài sản nhà nước (Điều 144) và tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản (Điều 145). Về động cơ phạm tội: tội sử dụng trái phép tài sản đòi hỏi dấu hiệu động cơ vì vụ lợi là dấu hiệu bắt buộc về mặt chủ quan của tội phạm. Tội hủy hoại hoặc hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản có nhiều động cơ khác nhau nhưng chủ yếu là tư thù.