Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT GIAO ĐẤT TẠI VIỆT NAM 1. Những vấn đề lý luận về giao đất 1. Cơ sở của việc hình thành quy định về giao đất Nhằm thực hiện chế độ đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước làm đại diện chủ sở hữu được ghi nhận từ Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992 và Hiến pháp năm 2013 và các Luật Đất đai năm 1987, Luật Đất đai năm 1993, Luật Đất đai năm 2003, Luật Đất đai năm 2013, các quy định của pháp luật về giao đất đã ra đời và từng bước hoàn thiện để đảm bảo cho việc phân phối và phân phối lại quỹ đất hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả, công bằng giữa những người sử dụng đất, đồng thời đảm bảo cho việc quản lý đất đai của Nhà nước tập trung thống nhất. Khái niệm, phân loại giao đất 1.
Khái niệm giao đất Theo quy định tại khoản 7 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013:“Nhà nước giao quyền sử dụng đất (sau đây gọi là Nhà nước giao đất) là việc Nhà nước ban hành quyết định giao đất để trao quyền sử dụng đất cho đối tượng có nhu cầu sử dụng đất”. Phân loại giao đất Theo quy định của Luật Đất đai năm 2013, giao đất hiện nay có hai hình thức: giao đất không thu tiền sử dụng đất và giao đất có thu tiền sử dụng đất. Việc giao đất có thể xác định thời hạn hoặc không xác định thời hạn thùy thuộc vào mục đích sử dụng đất. 11 Giao đất không thu tiền sử dụng đất là việc Nhà nước trao quyền sử dụng đất bằng quyết định hành chính cho người có nhu cầu sử dụng đất và người sử dụng đất không phải nộp tiền sử dụng đất cho Nhà nước.
Đối với hình thức giao đất có thu tiền sử dụng đất là việc Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất có nhu cầu sử dụng đất và người sử dụng đất phải nộp cho Nhà nước một khoản tiền sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Nguyên tắc giao đất Giao đất là hành vi pháp lý của cơ quan Nhà nước thực hiện phân phối và phân phối lại đất đai cho người sử dụng đất nhằm đảm bảo cho đất đai được sử dụng hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả. Để Nhà nước thực hiện tốt được chức năng quản lý đối với đất đai, hoạt động giao đất phải đảm bảo các nguyên tắc sau: Giao đất phải đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và giao đất phải đúng thẩm quyền, đối tượng. Khái quát pháp luật về giao đất 1.
Quan hệ pháp luật về giao đất 1. Chủ thể quan hệ pháp luật về giao đất Chủ thể của quan hệ pháp luật về giao đất thực chất chính là các bên tham gia vào quan hệ pháp luật đất đai bao gồm: Nhà nước, các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân trong nước, cơ sở tôn giáo, cộng đồng dân cư, Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, cụ thể: Thứ nhất, Nhà nước là chủ thể đặc biệt của quan hệ pháp luật đất đai. Thứ hai, các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân trong nước, cơ sở tôn giáo, cộng đồng dân cư, Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, và doanh 12 nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tham gia vào qua hệ pháp luật đất đai nói chung và quan hệ pháp luật giao đất nói riêng với tư cách là người sử dụng đất. Khách thể quan hệ pháp luật về giao đất Khách thể của quan hệ pháp luật về giao đất là toàn bộ vốn đất quốc gia, là vùng đất, khoảng đất cụ thể mà qua đó Nhà nước đã thiết lập các chế độ pháp lý nhất định.
Theo quy định của Luật Đất đai năm 2013 thì các chế độ pháp lý đó là: Chế độ pháp lý đối với đất nông nghiệp; chế độ pháp lý đối với đất phi nông nghiệp; chế độ pháp lý đối với đất chưa sử dụng. Nội dung quan hệ pháp luật về giao đất Nội dung quan hệ pháp luật về giao đất chính là các quyền và nghĩa vụ pháp lý của chủ thể quan hệ pháp luật đất đai, nhưng chủ thể ở đây có thể nhìn nhận một cách cụ thể hơn đó chính là Nhà nước và người được giao đất. Nhà nước với tư cách là người đại diện chủ sở hữu về đất đai nên quyền và nghĩa vụ của Nhà nước rất đặc trưng, trước hết vì Nhà nước là đại diện chủ sở hữu nên Nhà nước có đầy đủ ba quyền năng đó là: quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt. Khác với Nhà nước, chủ thể được Nhà nước giao đất ngoài những quyền chung của người sử dụng đất được quy định tại Điều 166 và Nghĩa vụ chung của người sử dụng đất được quy định tại Điều 170 Luật Đất đai năm 2013 thì quyền và nghĩa vụ pháp lý của người được Nhà nước giao đất sẽ được phân chia theo từng loại chủ thể như: tổ chức được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất; tổ chức được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất; hộ gia đình, cá nhân; người Việt Nam định cư ở nước 13 ngoài; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư tại Việt Nam.
Nguồn của pháp luật về giao đất Nguồn của pháp luật về giao đất bao gồm những văn bản pháp luật do nhiều cơ quan có thẩm quyền của Việt nam ban hành. Nguồn chủ yếu là các văn bản luật và văn bản dưới luật có chứa đựng các quy phạm pháp luật điều chỉnh về pháp luật giao đất. 14 Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ GIAO ĐẤT 2. Nội dung pháp luật về giao đất ở nước ta hiện nay 2.
Căn cứ và điều kiện giao đất 2. Căn cứ giao đất Để thực hiện chính sách giao đất có hiệu quả, đúng mục đích, đúng đối tượng và tiết kiệm, việc giao đất cần thực hiện theo các căn cứ mà pháp luật đất đai quy định, cụ thể: Kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt; Nhu cầu sử dụng đất thể hiện trong dự án đầu tư, đơn xin giao đất, thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất. Điều kiện giao đất Đây là cơ sở để Nhà nước thực hiện chính sách giao đất, thông qua việc tuân thủ các quy định về căn cứ giao đất, điều kiện về giao đất, theo đó việc giao đất cần phải đảm bảo các điều kiện: Thứ nhất, đối với dự án có sử dụng đất trồng lúa, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng vào các mục đích khác mà không thuộc trường hợp được Quốc hội quyết định, Thủ tướng Chính phủ chấp thuận chủ trương đầu tư thì cơ quan Nhà nước có thẩm quyền chỉ được quyết định giao đất Thứ hai, đối với dự án sử dụng đất tại đảo và xã, phường, thị trấn biên giới, ven biển thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền chỉ được quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất khi được sự chấp thuận bằng văn bản của các bộ, ngành có liên quan. 15 Thứ ba, người được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư phải có các điều kiện theo quy định của pháp luật đất đai.
Hình thức giao đất Hình thức giao đất là việc Nhà nước thông qua các quyết định hành chính giao đất cho các hộ gia đình, cá nhân và các tổ chức ở các trường hợp khác nhau với các quy định riêng phù hợp. Theo quy định của Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành, Nhà nước thực hiện việc giao đất dưới hai hình thức sau: giao đất không thu tiền sử dụng đất và giao đất có thu tiền sử dụng đất. Như vậy, số lượng các trường hợp được áp dụng hình thức giao đất có thu tiền sử dụng đất trong Luật Đất đai năm 2013 đã bị giảm đáng kể so với Luật Đất đai năm 2003. Thẩm quyền giao đất Theo quy định của Luật Đất đai năm 2013 thẩm quyền giao đất được quy định như sau: Thứ nhất, UBND cấp tỉnh có thẩm quyền giao đất đối với tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được giao đất để thực hiện dự án đầu tư xây dựng nhà ở để bán hoặc để bán kết hợp cho thuê.
Thứ hai, UBND cấp huyện có thẩm quyền giao đất đối với hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư. Luật Đất đai năm 2013 cũng quy định cơ quan có thẩm quyền quyết định giao đất không được ủy quyền. Hạn mức giao đất Hạn mức giao đất là diện tích tối đa đối với mỗi loại đất mà cơ quan nhà nước có thẩm quyền được giao cho mỗi hộ gia đình cá nhân. Theo quy định của Luật Đất đai 2013 thì hạn mức giao đất chỉ áp dụng đối với hộ gia đình, cá nhân và áp dụng đối với hoạt động giao đất của Nhà nước.
Tùy thuộc vào loại đất mà hạn mức giao đất được pháp luật quy định khác nhau. Hiện nay pháp luật quy định hai loại hạn mức giao đất là hạn mức giao đất nông nghiệp và hạn mức giao đất ở. Thời hạn sử dụng đất được giao Theo quy định của Luật đất đai 2013, thời hạn sử dụng đất khi được Nhà nước giao đất bao gồm: đất sử dụng ổn định lâu dài và đất sử dụng có thời hạn. Trình tự, thủ tục giao đất Đây là thứ tự các bước, các công việc cụ thể mà các cơ quan có thẩm quyền và người sử dụng đất phải thực hiện để chuyển giao đất từ Nhà nước đến người sử dụng đất.
Pháp luật hiện hành có sự tiến bộ là quy định giản tiện hơn so với trước đây về thủ tục giao đất. Về cơ bản, thủ tục này được thực hiện theo cơ chế một cửa, người xin giao đất nộp hồ sơ và nhận kết quả tại một cơ quan nhất định. Luật Đất đai năm 2013 không quy định chi tiết về thủ tục, trình tự giao đất mà chỉ quy định một số nguyên tắc trong giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất và giao cho chính phủ quy định cụ thể, theo quy định tại các Điều 60, 61, 62, 63, 64 Nghị định 43/2014/NĐ-CP trình tự, thủ tục giao đất, Bộ tài nguyên và môi trường quy định cụ thể hồ sơ giao đất tại Thông tư số 30/2014/TT-BTNMT.