ĐẠI HỌC QUỐC QIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN PHẠM VĂN LÂM LIÊN THÔNG ĐÀO TẠO TRONG VIỆC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ HÀ NỘI, NĂM 2008 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ĐẠI HỌC QUỐC QIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN PHẠM VĂN LÂM LIÊN THÔNG ĐÀO TẠO TRONG VIỆC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ Ngành: QUẢN LÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ Mã số : 603472 HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS. NGUYỄN VĂN KHÁNH HÀ NỘI, NĂM 2008 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com MỤC LỤC Trang PHẦN MỞ ĐẦU. Lý do chọn đề tài . Tổng quan tình hình nghiên cứu . Mục tiêu nghiên cứu. Phạm vi nghiên cứu . Câu hỏi nghiên cứu . Giả thuyết nghiên cứu . Phương pháp chứng minh giả thuyết . Kết cấu của Luận văn . CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGUỒN NHÂN LỰC KH&CN VÀ LIÊN THÔNG ĐÀO TẠO . Khái niện và một số tiêu chí về nguồn nhân lực KH&CN . Khái niệm nguồn nhân lực. Khái niệm về nguồn nhân lực KH&CN . Khái niệm về nguồn nhân lực KH&CN . Chất lượng nguồn nhân lực KH&CN . Tiêu chí đánh giá chất lượng nguồn nhân lực KH&CN. Khái niệm liên thông trong đào tạo . Hệ thống giáo dục. Liên thông trong đào tạo . Khái niệm về kế thừa. Tính kế thừa. Cách kế thừa. Tổ chức quản lý đào tạo liên thông. Yêu cầu phát triển nguồn nhân lực KH&CN . 26 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Lợi ích của liên thông đào tạo . Phát triển nguồn nhân lực KH&CN ở tỉnh Hải Dương. 27 Tiểu kết Chương 1. THỰC TRẠNG LIÊN THÔNG ĐÀO TẠO ĐỐI VỚI NGUỒN NHÂN LỰC KH&CN . Thực trạng nguồn nhân lực KH&CN ở Hải Dương . Số lượng và cơ cấu phân theo trình độ đào tạo . Phân theo hình thức đào tạo . Nhận xét và đánh giá chung . Liên thông đào tạo đối với nguồn nhân lực KH&CN ở tỉnh Hải Dương . Số lượng và cơ cấu nguồn nhân lực KH&CN qua liên thông đào tạo . Nguồn nhân lực qua liên thông đào tạo phân theo hình thức đào tạo . Thực trạng đào tạo liên thông ở Trường Cao đẳng nghề Hải Dương và Trường Cao đẳng Công nghiệp Sao Đỏ . Một số nét về Trường Cao đẳng nghề Hải Dương . Thực trạng đào tạo liên thông từ trình độ Trung cấp nghề lên trình độ Cao đẳng nghề, nghề Điện công nghiệp của Trường Cao đẳng nghề Hải Dương . Một số nét về Trường Cao đẳng Công nghiệp Sao Đỏ. Đào tạo liên thông từ trình độ Trung cấp nghề lên Cao đẳng nghề, ngành Công nghệ cơ khí của Trường Cao đẳng Công nghiệp Sao Đỏ . Nhận xét, đánh giá . Đánh giá của thị trường lao động về nguồn nhân lực KH&CN qua đào tạo liên thông ở tỉnh Hải Dương . 74 Tiểu kết Chương 2. GIẢI PHÁP LIÊN THÔNG ĐÀO TẠO ĐƯỢC THỰC HIỆN DỰA TRÊN CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO NHẰM ĐẠT MỤC TIÊU GẮN VỚI NHU CẦU THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG . Mục tiêu đào tạo gắn với thị trường lao động . Chương trình liên thông xuất phát từ mục tiêu đào tạo. 88 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Đổi mới liên thông đào tạo bắt đầu từ giáo viên . Đổi mới quy trình đào tạo liên thông . Đổi mới phương pháp dạy và học trong liên thông. Đổi mới cách đánh giá trong đào tạo liên thông. Đổi mới về đầu tư và cơ chế tài chính . Thử nghiệm các giải pháp trên . 99 Tiểu kết Chương 3.101 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ.103 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO . 108 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài 1. Sự cần thiết nghiên cứu đề tài Việt Nam đã chính thức là thành viên của tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng đã tạo ra cho nước ta những cơ hội và thách thức mới. Phát triển kinh tế - xã hội bền vững là nhiệm vụ trọng tâm, phấn đấu đến năm 2020 đất nước ta trở thành nước công nghiệp. Với vai trò to lớn của KH&CN cùng với giáo dục và đào tạo, Đại hội X của Đảng tiếp tục khẳng định: “Phát triển KH&CN cùng với phát triển giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”. Trong bối cảnh toàn cầu hoá kinh tế, nước ta có cơ hội thuận lợi để tận dụng những thành tựu của cách mạng KH&CN hiện đại, tiếp thu tri thức, các nguồn lực và kinh nghiệm của nước ngoài; đi thẳng vào những công nghệ hiện đại để rút ngắn quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Hơn 20 năm đổi mới, nền kinh tế nước ta đã liên tục có tốc độ tăng trưởng cao. Đây là điều kiện thuận lợi để tăng đầu tư cho phát triển KH&CN, đồng thời thúc đẩy đổi mới công nghệ và ứng dụng thành tựu KH&CN trong nền kinh tế. Tuy nhiên, thách thức lớn nhất đối với sự phát triển KH&CN nước ta hiện nay là phải nhanh chóng phát triển nguồn nhân lực KH&CN cả về số lượng và chất lượng để nâng cao năng lực KH&CN, rút ngắn quá trình CNH, HĐH đất nước. Hiện nay, trình độ chuyên môn, khả năng nghiên cứu, hiệu quả sử dụng nhân lực khoa học công nghệ còn hạn chế. Nghiên cứu khoa học và tham gia đào tạo là chức năng, nhiệm vụ chính của đội ngũ cán bộ KH&CN chất lượng cao. Nhưng tỷ lệ nhân lực tham gia trực tiếp vào quá trình nghiên cứu khoa học còn thấp. Cụ thể: ở đề tài cấp nhà nước chỉ có 30% cán bộ được tham gia, tương ứng đề tài cấp bộ có 48,1% và 1 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đề tài cấp cơ sở là 65,1%. Điều này hợp lý ở chỗ cấp đề tài càng cao, càng đòi hỏi khả năng nghiên cứu của số cán bộ có trình độ chuyên môn cao. Tuy nhiên, xét tổng thể thì số lượng cán bộ KH&CN được tham gia nghiên cứu khoa học mới đạt 65,1%, còn lại 34,9% không tham gia, đó là sự lãng phí rất lớn. Các đề tài nghiên cứu KH&CN của nước ta còn nhiều điểm chưa tiếp cận được trình độ KH&CN thế giới, khả năng hội nhập còn hạn chế. Việc tham gia hội thảo và các kết quả nghiên cứu được công bố trên các tạp chí khoa học có danh tiếng trên thế giới còn ít. Số bằng phát minh, sáng chế của Việt Nam rất hạn chế. Thời kỳ 2001- 2005, Việt Nam chỉ có 11 đơn đăng ký sáng chế ở nước ngoài. Trong khi đó Indonexia có 36, Thái Lan có 39, Philipin có 85, Hàn Quốc có 15. Nếu căn cứ vào số lượng các công trình nghiên cứu khoa học được đăng trên tạp chí quốc tế và bằng sáng chế được quốc tế công nhận thuộc 27 môn khoa học, thì Việt Nam chưa lọt vào danh sách của 50 nước được tính đến (Singapo, Malaisia và Thái Lan đã có tên trong danh sách này). Điều đó có nghĩa là, trình độ nguồn nhân lực KH&CN nước ta còn rất thấp. Hệ thống giáo dục và đào tạo ở mỗi quốc gia có vai trò đòn bẩy phát triển nền kinh tế và quyết định sự phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực KH&CN. Chỉ có hệ thống giáo dục và đào tạo phát triển, tiên tiến mới tạo ra nguồn nhân lực KH&CN chất lượng cao. Công cuộc đổi mới đất nước, giáo dục và đào tạo luôn được Đảng, Nhà nước và cả xã hội quan tâm. Ngành giáo dục cũng đã qua nhiều lần chấn hưng và đổi mới nhưng kết quả đạt được rất hạn chế. Để đáp ứng yêu cầu nguồn nhân lực cho CNH, HĐH, nền giáo dục nước ta cần phải nhanh chóng đổi mới và phát triển, đặc biệt là giáo dục nghề nghiệp. Sự lạc hậu, trì trệ kém phát triển của giáo dục nước ta so với các nước trong khu vực như: Thái Lan, Trung Quốc, Malaisia, Singapore, Philipin, Indonexia,. đã thấy được vị trí giáo dục Việt Nam còn khoảng cách rất xa so với các nước phát triển. Trong xu thế hội nhập, phát triển nền kinh tế tri thức, nguồn nhân lực không chỉ còn 2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ở mỗi quốc gia, mà là nguồn nhân lực toàn cầu. Những lợi thế về nguồn tài nguyên thiên nhiên, giá lao động rẻ đã nhường chỗ cho lợi thế về nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn giỏi, có năng lực sáng tạo. Nếu không sớm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực sẽ không có khả năng cạnh tranh với các nước trong khu vực về thu hút đầu tư và các công nghệ tiên tiến từ bên ngoài. Trước những cơ hội và thách thức trong thời kỳ hội nhập, nếu không có những quyết sách đột phá về đổi mới giáo dục, đặc biệt là giáo dục nghề nghiệp để tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và những biện pháp mạnh mẽ tăng cường năng lực KH&CN quốc gia, thì nguy cơ tụt hậu về kinh tế - xã hội ngày càng xa là khó tránh khỏi. Chất lượng nguồn nhân lực KH&CN được đánh giá qua hệ thống giáo dục: Giáo dục yếu kém, lạc hậu không thể tạo ra nguồn nhân lực KH&CN chất lượng cao. Vì vậy, để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực KH&CN rất cần phải đổi mới và phát triển giáo dục, đặc biệt là giáo dục nghề nghiệp. Liên thông đào tạo trong giáo dục để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực KH&CN đã được các nước phát triển thực hiện và có hiệu quả từ nhiều năm. Sự kế thừa kiến thức, kỹ năng, phương pháp. ở các bậc học đã được thực hiện hoàn hảo, nên chất lượng và hiệu quả của giáo dục rất cao. Ở Việt Nam, liên thông đào tạo đã được triển khai và thực hiện từ lâu, nhưng chất lượng và hiệu quả còn rất thấp và có quá nhiều vấn đề bất cập. Tác giả của luận văn cũng như rất nhiều người khác đã trải qua quá trình giáo dục ở Việt nam từ mầm non đến sau đại học, có rất nhiều lý do để khẳng định tính kế thừa của quá trình giáo dục không tốt, kỹ năng và phương pháp đều lạc hậu. Chẳng hạn: môn Chính trị, được đề cập đến từ chương trình THPT, trong giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học, các lớp lý luận trung cấp, cao cấp đều dập khuôn một chương trình và lý luận gần như tương tự. Những lý luận đó sau 20, 30 năm thay đổi không đáng là bao. Kết quả là người học khó tiếp thu, nhàm chán với những lý luận lạc hậu, chất lượng đào tạo không cao.
Tổng quan nghiên cứu
Việt Nam có trên 1,7 triệu dân tại tỉnh Hải Dương với nhu cầu lao động kỹ thuật chất lượng hàng năm lên đến trên 60 ngàn người. Tuy nhiên, thực trạng nguồn nhân lực khoa học và công nghệ (KH&CN) còn nhiều hạn chế, thể hiện qua tỷ lệ nhân lực tham gia trực tiếp vào quá trình nghiên cứu khoa học còn thấp, chỉ đạt 65,1% ở cấp cơ sở, 48,1% ở cấp bộ và 30% ở cấp nhà nước. Đặc biệt, thời kỳ 2001-2005, Việt Nam chỉ có 11 đơn đăng ký sáng chế ở nước ngoài, trong khi các nước trong khu vực như Indonesia có 36, Thái Lan có 39 và Philipin có 85. Luận văn này tập trung nghiên cứu mô hình liên thông đào tạo như một giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực KH&CN tại tỉnh Hải Dương trong 5 năm trở lại đây, với mục tiêu đề xuất các biện pháp liên thông dựa trên chương trình đào tạo nhằm đạt mục tiêu gắn với nhu cầu thị trường lao động. Nghiên cứu có ý nghĩa quan trọng trong việc góp phần nâng cao tỷ lệ lao động qua đào tạo từ mức hiện tại lên 40% vào năm 2010 như mục tiêu của tỉnh đã đề ra.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu dựa trên hai lý thuyết chính: lý thuyết về nguồn nhân lực KH&CN và lý thuyết về liên thông đào tạo. Nguồn nhân lực KH&CN được định nghĩa là "toàn bộ những người có bằng cấp chuyên môn nào đó trong lĩnh vực KH&CN và những người có trình độ kỹ năng thực tế tương đương mà không có bằng cấp và tham gia một cách thường xuyên vào hoạt động KH&CN". Chất lượng nguồn nhân lực KH&CN được đánh giá qua các tiêu chí về số lượng, cơ cấu, trình độ và tỷ lệ chuyên gia có học hàm, học vị. Về liên thông đào tạo, nghiên cứu áp dụng khái niệm "liên thông đào tạo là loại hình đào tạo mà người học kế thừa kiến thức, kỹ năng đã có, sử dụng kết quả học tập đã tích luỹ trong quá trình học tập hoặc làm việc khi chuyển sang học ngành, nghề, trình độ đào tạo, hình thức học tập khác trong hệ thống giáo dục quốc dân". Các khái niệm chính bao gồm: tính kế thừa trong đào tạo, học tập suốt đời, chương trình đào tạo linh hoạt và chuyển đổi kết quả học tập.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp với nguồn dữ liệu sơ cấp và thứ cấp. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua bảng câu khảo sát gửi đến 169 cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, trường học trên địa bàn tỉnh Hải Dương, trong đó có 155 phiếu được thu hồi (tỷ lệ phản hồi 91,7%). Cỡ mẫu nghiên cứu là 2.791 người thuộc nguồn nhân lực KH&CN đã qua đào tạo liên thông. Phương pháp chọn mẫu là mẫu phân tầng theo ngành nghề và trình độ đào tạo. Phương pháp phân tích dữ liệu bao gồm phân tích thống kê mô tả và phân tích so sánh. Ngoài ra, nghiên cứu còn sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu với 15 quản lý các trường cao đẳng và doanh nghiệp tại 8 khu công nghiệp, phương pháp quan sát thực tế tại Trường Cao đẳng nghề Hải Dương và Trường Cao đẳng Công nghiệp Sao Đỏ. Thời gian nghiên cứu được thực hiện trong 12 tháng, từ tháng 1/2007 đến tháng 12/2007.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Nghiên cứu chỉ ra rằng nguồn nhân lực KH&CN qua đào tạo liên thông tại tỉnh Hải Dương là 2.791 người, chiếm tỷ lệ 8,74% tổng nguồn nhân lực KH&CN của tỉnh. Trong đó, ngành giáo dục đào tạo có số lượng đông nhất với 1.437 người (chiếm 51,5%), tiếp theo là ngành y tế với 318 người (11,4%) và ngành tài chính với 247 người (8,84%). Về cơ cấu trình độ, cao đẳng chiếm tỷ lệ cao nhất với 1.407 người (50,4%), đại học là 1.204 người (43,1%) và trung cấp là 180 người (6,44%). Đặc biệt, nghiên cứu phát hiện rằng chỉ có 37,4% số người được đào tạo chính quy, trong khi 44,8% đào tạo tại chức và 13,8% đào tạo chuyên tu. Tỷ lệ lao động kỹ thuật qua đào tạo liên thông đáp ứng được nhu cầu thị trường chỉ đạt khoảng 16,7% so với nhu cầu 60.000 người/năm của tỉnh. Dữ liệu có thể được trình bày qua biểu đồ tròn thể hiện cơ cấu nguồn nhân lực KH&CN theo ngành nghề và biểu đồ cột so sánh số lượng nhân lực qua đào tạo liên thông theo từng trình độ.
Thảo luận kết quả
Kết quả nghiên cứu cho thấy chất lượng nguồn nhân lực KH&CN qua đào tạo liên thông còn thấp do nhiều nguyên nhân. Thứ nhất, chương trình đào tạo chưa đảm bảo tính kế thừa giữa các cấp học, dẫn đến tình trạng lãng phí thời gian và tài nguyên. Thứ hai, phương pháp dạy và học còn truyền thống, chưa gắn với thực tiễn sản xuất. Thứ ba, cơ chế quản lý liên thông giữa Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội còn chồng chéo, chưa thống nhất. So với các nước phát triển như Mỹ, Anh, Úc nơi liên thông đào tạo đã có lịch sử gần 100 năm, mô hình liên thông tại Việt Nam còn nhiều hạn chế. Tại tỉnh Hải Dương, thực trạng này đặc biệt nghiêm trọng trong các ngành kỹ thuật như Điện công nghiệp và Công nghệ cơ khí, nơi tỷ lệ sinh viên liên thông chỉ đáp ứng được khoảng 20% nhu cầu thực tế của doanh nghiệp. Ý nghĩa của nghiên cứu chỉ ra rằng cần đổi mới căn bản chương trình đào tạo theo hướng tăng cường tính kế thừa và gắn kết với thị trường lao động.
Đề xuất và khuyến nghị
-
Chuẩn hóa chương trình đào tạo liên thông giữa các trường trong vùng và cả nước để đảm bảo tính kế thừa kiến thức, kỹ năng, nhằm tăng tỷ lệ công nhận kết quả học tập lên 90% vào năm 2010, do Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì thực hiện.
-
Đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng ứng dụng công nghệ thông tin và tăng cường thực hành tại doanh nghiệp, giảm ít nhất 30% thời gian lý thuyết và tăng 50% thời gian thực hành, do các trường cao đẳng trên địa bàn tỉnh thực hiện trong năm học 2009-2010.
-
Xây dựng cơ chế hợp tác chặt chẽ giữa nhà trường và doanh nghiệp thông qua ký kết hợp tác đào tạo, phấn đấu có 80% doanh nghiệp trong khu công nghiệp tham gia vào quá trình đào tạo vào năm 2011, do Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Hải Dương triển khai.
-
Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất và trang thiết bị thực hành cho các trường đào tạo nghề, đảm bảo 100% các trường đạt chuẩn theo quy định của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội trước năm 2012, do UBND tỉnh Hải Dương bố trí ngân sách thực hiện.
-
Đổi mới công tác quản lý liên thông đào tạo thông qua việc thành lập hội đồng phối hợp liên ngành giữa giáo dục và lao động, ban hành quy chế liên thông thống nhất trong quý I năm 2009, do UBND tỉnh Hải Dương chỉ đạo thực hiện.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Nhà quản lý giáo dục và đào tạo các cấp sẽ tìm thấy trong luận văn những phân tích sâu về cơ chế quản lý liên thông đào tạo và các giải pháp khắc phục bất cập trong công tác quản lý, giúp họ xây dựng chính sách phù hợp. Các nhà quản lý doanh nghiệp tại khu công nghiệp có thể tham khảo mô hình hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp trong đào tạo nguồn nhân lực, từ đó đề xuất các chương trình đào tạo theo nhu cầu cụ thể của doanh nghiệp. Giảng viên các trường cao đẳng, đại học sẽ được cung cấp những kiến thức về xây dựng chương trình đào tạo đảm bảo tính kế thừa và phương pháp dạy học tích cực, giúp nâng cao chất lượng đào tạo. Sinh viên và người học đang có nhu cầu liên thông sẽ hiểu rõ về quy trình, điều kiện và lợi ích của liên thông đào tạo, từ đó có định hướng học tập phù hợp với nhu cầu thị trường lao động.
Câu hỏi thường gặp
Liên thông đào tạo là gì và tại sao nó quan trọng? Liên thông đào tạo là loại hình đào tạo mà người học kế thừa kiến thức, kỹ năng đã có khi chuyển sang học ngành, nghề, trình độ đào tạo khác. Nó quan trọng vì tạo điều kiện học tập suốt đời, tiết kiệm thời gian và chi phí, đồng thời nâng cao chất lượng nguồn nhân lực KH&CN.
Thực trạng liên thông đào tạo tại tỉnh Hải Dương như thế nào? Tại Hải Dương, nguồn nhân lực KH&CN qua đào tạo liên thông là 2.791 người, chiếm 8,74% tổng nguồn nhân lực KH&CN của tỉnh, chủ yếu tập trung ở ngành giáo dục (51,5%) và đào tạo chủ yếu theo hình thức tại chức (44,8%).
Những khó khăn chính trong liên thông đào tạo hiện nay là gì? Khó khăn chính là chương trình đào tạo chưa đảm bảo tính kế thừa, phương pháp dạy và học còn truyền thống, cơ chế quản lý giữa Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chưa thống nhất, và thiếu sự phối hợp giữa nhà trường và doanh nghiệp.
Làm thế nào để nâng cao chất lượng liên thông đào tạo? Cần chuẩn hóa chương trình đào tạo, đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tăng cường thực hành, xây dựng cơ chế hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp, tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, và đổi mới công tác quản lý liên thông đào tạo.
Liên thông đào tạo mang lại lợi ích gì cho người học và doanh nghiệp? Đối với người học, liên thông giúp tiết kiệm thời gian, chi phí, tạo điều kiện thăng tiến nghề nghiệp. Đối với doanh nghiệp, liên thông cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh và giảm chi phí đào tạo lại.
Kết luận
- Liên thông đào tạo đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực KH&CN tại tỉnh Hải Dương, nơi nhu cầu lao động kỹ thuật hàng năm lên đến trên 60 ngàn người.
- Chương trình đào tạo cần đảm bảo tính kế thừa giữa các cấp học và gắn với nhu cầu thị trường lao động để nâng cao hiệu quả đào tạo.
- Đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng tăng cường thực hành, ứng dụng công nghệ thông tin là yêu cầu cấp thiết để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
- Tăng cường hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp thông qua các cơ chế phối hợp hiệu quả sẽ giải quyết được khoảng cách giữa đào tạo và thực tế.
- Các giải pháp đề xuất cần được triển khai đồng bộ trong giai đoạn 2009-2012 để đạt mục tiêu nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo lên 40% vào năm 2010 và đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.