CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN TÍN DỤNG BÁN LẺ TẠI NHTM xvi CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN TÍN DỤNG BÁN LẺ TẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM – CHI NHÁNH ĐỒNG THÁP CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN TÍN DỤNG BÁN LẺ TẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM – CHI NHÁNH ĐỒNG THÁP 1 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN TÍN DỤNG BÁN LẺ TẠI NHTM 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍN DỤNG BÁN LẺ TẠI NHTM 1. Khái niệm Tín dụng bán lẻ là một sản phẩm trong dịch vụ NHBL. Hiện nay, có rất nhiều khái niệm về dịch vụ NHBL theo nhiều cách tiếp cận khác nhau.
Đứng trên góc độ đóng góp của công nghệ thông tin đối với các dịch vụ NHBL thì theo các chuyên gia kinh tế của Học viện nghiên cứu Châu Á – AIT cho rằng ngân hàng bán lẻ là cung cấp trực tiếp sản phẩm, dịch vụ ngân hàng tới từng cá nhân riêng lẻ, các doanh nghiệp vừa và nhỏ thông qua mạng lưới chi nhánh truyền thống hay thông qua các phương tiện điện tử viễn thông và công nghệ thông tin. Theo danh mục thuật ngữ tác giả Peter S.Rose (2001) thì dịch vụ ngân hàng bán lẻ là dịch vụ ngân hàng hướng đến người tiêu dùng, cung cấp hầu hết các dịch vụ cho cá nhân và doanh nghiệp nhỏ. Theo WTO, dịch vụ ngân hàng bán lẻ là loại hình dịch vụ điển hình của ngân hàng nơi các khách hàng cá nhân có thể đến giao dịch tại các chi nhánh/phòng giao dịch của các ngân hàng để thực hiện các dịch vụ như: tiền gửi tiết kiệm, kiểm tra tài khoản, thế chấp vay vốn, dịch vụ thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ và các dịch vụ khác đi kèm… Định nghĩa này nhấn mạnh đến đối tượng khách hàng của dịch vụ NHBL là các khách hàng cá nhân, không mở rộng ra đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Theo Jean Paul Votron - Ngân hàng Foties (2007) thì bán lẻ chính là vấn đề của phân phối”, là việc triển khai các hoạt động tìm hiểu, xúc tiến, nghiên cứu, thử nghiệm, phát hiện và phát triển các kênh phân phối hiện đại - mà nổi bật là kinh doanh qua mạng.
Dịch vụ bán lẻ bao gồm ba lĩnh vực chính: thị trường, các kênh phân phối, dịch vụ và đáp ứng dịch vụ. Định nghĩa trên nhấn mạnh tầm ảnh hưởng của phân phối đối với dịch vụ NHBL, một ngân hàng xây dựng được một kênh phân phối tốt, đặc biệt có sự tham gia đắc lực của công nghệ là đã có ưu thế hơn các đối thủ cạnh tranh khác. Lê Khắc Trí (2007) thì tín dụng bán lẻ là những hình thức cho vay trực tiếp đến các người vay cuối cùng, chủ yếu là các cá nhân hộ gia đình, các doanh nghiệp nhỏ và vừa. 2 Theo BIDV, cấp tín dụng bán lẻ là việc cấp tín dụng cho khách hàng bán lẻ bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, bảo lãnh và các nghiệp vụ khác.
Trong đó, khách hàng bán lẻ là cá nhân, hộ gia đình có nhu cầu sử dụng sản phẩm, dịch vụ của BIDV. Như vậy, qua nhiều cách định nghĩa khác nhau, có thể thấy khái niệm về dịch vụ NHBL nói chung và tín dụng bán lẻ nói riêng rất đa dạng. Do vậy, tác giả rút ra khái niệm tín dụng bán lẻ của ngân hàng thương mại là hoạt động cung ứng các sản phẩm tín dụng trực tiếp đến các cá nhân, hộ gia đình nhằm thỏa mãn các nhu cầu về tài chính. Đặc điểm tín dụng bán lẻ - Đối tượng được cung cấp sản phẩm tín dụng bán lẻ rất rộng, số lượng khách hàng vô cùng lớn, bao gồm các cá nhân, hộ gia đình trong nền kinh tế, nhưng giá trị của các khoản vay thông thường nhỏ.
- Chất lượng các thông tin tài chính của các khách hàng vay thông thường không cao, đối với các khách hàng cá nhân và hộ gia đình khó xác định. - Nhu cầu được cấp tín dụng bán lẻ của khách hàng chịu tác động mạnh và phụ thuộc lớn vào chu kỳ kinh tế; tăng mạnh trong thời kì nền kinh tế tăng trưởng tốt, thu nhập cao, chi tiêu tăng, đầu tư cho sản xuất kinh doanh dịch vụ nhỏ lẻ sinh lời cao; ngược lại khi nền kinh tế suy thoái, thất nghiệp tăng rất nhiều cá nhân hộ gia đình, hạn chế chi tiêu vay mượn tiêu dùng. - Chi phí cho tín dụng bán lẻ lớn hơn mức bình quân chung, do các khoản vay nhỏ lẻ, lượng khách hàng lớn nên chi phí quản lý, chi phí hoạt động lớn; do nhu cầu sử dụng nguồn trung dài hạn cao nên chi phí vốn cao. - Do số lượng khách hàng lớn, giá trị từng giao dịch không lớn so với bán buôn, vì thế rủi ro trong hoạt động tín dụng bán lẻ được phân tán.
Rủi ro có thể xảy ra với tần suất lớn hơn nhưng hậu quả của rủi ro, gây tổn thất về tài sản ít hơn so với hoạt động tín dụng bán buôn. Phân loại tín dụng bán lẻ Bên cạnh các hình thức phân loại chung, tín dụng bán lẻ có một số hình thức phân loại đặc thù như sau: Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn vay: - Tín dụng cho sản xuất, lưu thông hàng hóa; 3 - Tín dụng tiêu dùng. Căn cứ vào đối tượng cấp tín dụng: - Cho vay cá nhân; - Cho vay hộ gia đình; 1. LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN TÍN DỤNG BÁN LẺ TẠI NHTM 1.
Khái niệm phát triển tín dụng bán lẻ Theo quan điểm Duy vật biện chứng thì phát triển là sự vận động theo hướng đi lên, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện của sự vật, hiện tượng. Phát triển không chỉ đơn thuần tăng lên hay giảm đi về lượng mà còn có sự biến đổi về chất của sự vật, hiện tượng. Trong lĩnh vực ngân hàng, lượng ở đây có thể hiểu là số lượng hay quy mô sản phẩm dịch vụ, chất là chất lượng của sản phẩm dịch vụ đó. Sự phát triển của ngân hàng gắn liền với sự phát triển của các dịch vụ ngân hàng cung ứng, do đó, phát triển các dịch vụ ngân hàng chính là quá trình tất yếu khách quan.
Đối với các tín dụng bán lẻ cũng vậy, sự gia tăng về quy mô đồng thời nâng cao chất lượng dịch vụ chính là sự phát triển của dịch vụ này. Như vậy, có thể định nghĩa về phát triển tín dụng bán lẻ như sau: “Phát triển tín dụng bán lẻ tại NHTM là sự mở rộng về quy mô kết hợp với sự gia tăng về chất lượng và hiệu quả tín dụng bán lẻ”. Nội dụng phát triển tín dụng bán lẻ Qua khái niệm về phát triển tín dụng bán lẻ có thể thấy nội dung của phát triển tín dụng bán lẻ tại NHTM như sau: - Phát triển tín dụng bán lẻ theo chiều rộng: nghĩa là sự đa dạng hóa các loại hình dịch vụ, danh mục sản phẩm đáp ứng đầy đủ nhu cầu của khách hàng, số lượng khách hàng. Bên cạnh đó, là sự phát triển về quy mô tín dụng, và tốc độ phát triển, cơ cấu của tín dụng bán lẻ.
- Phát triển theo chiều sâu: là việc phát triển tín dụng bán lẻ nhấn mạnh đến việc không ngừng nâng cao chất lượng tín dụng bán lẻ, hạn chế rủi ro có thể xảy ra, là sự hài lòng của khách hàng đối với sản phẩm, hiệu quả của tín dụng bán lẻ tại NHTM 1. Các chỉ tiêu đánh giá sự phát triển tín dụng bán lẻ tại NHTM 1. Các chỉ tiêu đánh giá phát triển theo chiều rộng (quy mô, tốc độ phát triển) - Về quy mô: 4 Chỉ tiêu này phản ánh mức độ (quy mô) của tín dụng bán lẻ như: tổng dư nợ tín dụng bán lẻ, số lượng khách hàng, số lượng sản phẩm. Tổng dư nợ tín dụng bán lẻ là một chỉ tiêu phản ánh khối lượng tiền ngân hàng cấp cho nền kinh tế tại một thời điểm mà đối tượng khách hàng cụ thể là khách hàng bán lẻ.
Tổng dư nợ thấp chứng tỏ hoạt động của ngân hàng yếu kém, không có khả năng mở rộng, khả năng tiếp thị của ngân hàng kém. Mặc dù vậy, không có nghĩa là chỉ tiêu này càng cao thì chất lượng tín dụng càng cao bởi vì đằng sau những khoản tín dụng đó còn những rủi ro tín dụng mà ngân hàng phải gánh chịu. - Về tốc độ tăng trưởng: Chỉ tiêu này phản ánh tốc độ phát triển của tín dụng bán lẻ theo thời gian, được tính bằng công thức sau: Yi –Y(i-1) Ki(%) = --------------- x100 Y(i-1) Trong đó: Ki : Tốc độ tăng trưởng của tín dụng bán lẻ, số lượng khách hàng, sản phẩm… Yi : Tổng dư nợ tín dụng bán lẻ, số lượng khách hàng, sản phẩm tại kỳ nghiên cứu Y(i-1): Tổng dư nợ tín dụng bán lẻ, số lượng khách hàng, sản phẩm tại kỳ so sánh Chỉ tiêu này dùng để so sánh sự tăng trưởng dư nợ tín dụng bán lẻ, số lượng khách hàng, sản phẩm qua các năm để đánh giá khả năng cho vay, tìm kiếm khách hàng và đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch tín dụng của ngân hàng. Chỉ tiêu càng cao thì thể hiện trình độ phát triển và mức độ hoạt động của ngân hàng càng cao và có hiệu quả, ngược lại ngân hàng đang gặp khó khăn, nhất là trong việc tìm kiếm khách hàng và thể hiện việc thực hiện kế hoạch tín dụng chưa hiệu quả.
Các chỉ tiêu đánh giá phát triển theo chiều sâu (chất lượng và hiệu quả) - Các chỉ tiêu đánh giá về chất lƣợng: + Hệ số thu nợ Hệ số thu nợ = doanh số thu nợ/doanh số cho vay 5 Chỉ tiêu này phản ảnh hiệu quả trong việc thu nợ của ngân hàng. Nó phản ánh trong một thời kì nào đó, với doanh số cho vay nhất định ngân hàng thu về bao nhiêu đồng vốn + Tỷ lệ nợ quá hạn (%) Nợ quá hạn Tỷ lệ nợ quá hạn (%) = --------------- x 100 Tổng dư nợ Chỉ tiêu này cho thấy tình hình nợ quá hạn tại ngân hàng, đồng thời phản ánh khả năng quản lý tín dụng của ngân hàng trong khâu cho vay, đôn đốc thu hồi nợ của ngân hàng đối với các khoản vay. Đây là chỉ tiêu được dùng để đánh giá chất lượng tín dụng cũng như rủi ro tín dụng tại ngân hàng. Tỷ lệ nợ quá hạn càng cao thể hiện chất lượng tín dụng của ngân hàng càng kém, và ngược lại.